Thứ Hai, 18 tháng 5, 2015

QUAN HỆ CAMPUCHIA - VIỆT NAM (1993 - 2010)



MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

1.1 Campuchia và Việt Nam là hai nước có mối quan hệ lâu đời. Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, vận mệnh của hai quốc gia luôn gắn kết với nhau chặt chẽ, điều này đã được thực tế chứng minh: Nếu một giai đoạn nào đó, quan hệ hai nước trục trặc thì đều tổn hại đến lợi ích của cả Campuchia và Việt Nam. Ngược lại, nếu quan hệ giữa hai nước tốt đẹp thì tạo cơ hội và sự ổn định cho sự phát triển của hai bên.

Mặt khác, sự gần gũi về mặt địa lý và sự gắn bó, tương đồng về lịch sử khiến cho nhân dân hai nước luôn có sự hiểu biết, thông cảm và chia sẻ, đồng thời là điều kiện thuận lợi để thúc đẩy quan hệ hai nước trong tình hình mới.

Trong suốt quá trình phát triển của quốc gia, dân tộc, đặc biệt trong thời kỳ hiện đại, Campuchia và Việt Nam luôn nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của hoà bình, ổn định và hợp tác phát triển ở khu vực Đông Nam Á. Khu vực này có ý nghĩa chiến lược đối với cả hai nước xét trên nhiều phương diện, là một bộ phận quan trọng trong chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại và “láng giềng hữu nghị” của mỗi nước. Vì vậy, việc củng cố, thúc đẩy các mối quan hệ song phương, nhất là quan hệ với các nước láng giềng, khu vực cũng như giữa hai nước có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế của cả Campuchia và Việt Nam.

1.2 Từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, xu thế đối thoại, hợp tác trở thành dòng mạch chủ đạo trong quan hệ quốc tế giữa các quốc gia trên thế giới. Điều này đã tạo ra cơ hội rất lớn cho hợp tác khu vực Đông Nam Á nói chung và quan hệ giữa ba nước Đông Dương nói riêng có bước phát triển tốt đẹp hơn. Trong bối cảnh mới đó, quan hệ Campuchia - Việt Nam cũng được tăng cường và thúc đẩy theo hướng hợp tác tích cực.

Năm 1993, tình hình đất nước Campuchia dần đi vào ổn định đã tạo điều kiện cho quan hệ hai nước ngày càng được củng cố và phát triển trên mọi lĩnh vực: Chính trị, ngoại giao, kinh tế, an ninh, khoa học - kỹ thuật, hợp tác trong đa phương.

Trong những năm gần đây, đứng trước những biến đổi sâu sắc, khó lường của tình hình thế giới và khu vực, vì nhu cầu phát triển của mỗi nước, của Tiểu vùng Mekong và cả khu vực Đông Nam Á, Campuchia và Việt Nam đều phải xác định một chiến lược phát triển quốc gia thích hợp. Trong đó, từng mối quan hệ song phương hay đa phương đều có một vị trí, vai trò riêng và cần được xem trọng trong chính sách đối ngoại của mỗi nước. Quan hệ hợp tác hai nước hiện nay đang đứng trước những thuận lợi cơ bản cũng như những thách thức, khó khăn mới, nhưng nếu biết khai thác tốt thuận lợi và hạn chế một cách hiệu quả những thách thức, khó khăn, hợp tác Campuchia - Việt Nam sẽ có những bước phát triển có lợi cho mỗi nước, góp phần vì hòa bình, ổn định, hợp tác ở khu vực. Do đó, việc nghiên cứu quan hệ Campuchia - Việt Nam ngày càng có ý nghĩa quan trọng.

1.3 Quan hệ Campuchia - Việt Nam không chỉ tồn tại và phát triển một cách thuận chiều mà còn trải qua nhiều biến động, thăng trầm của lịch sử. Những mâu thuẫn, tồn tại trong quan hệ hai nước cũng như sự tác động sâu sắc của nhân tố bên ngoài, nhất là sức ép từ phía các nước lớn, đặc biệt là Trung Quốc đã có ảnh hưởng rất lớn đến mối quan hệ này. Tính thiếu ổn định trong hệ thống chính trị và những mặt trái trong chính sách đối ngoại của Campuchia, hay nói cách khác tính đa diện trong chính sách đối ngoại và sự tranh giành ảnh hưởng, đấu tranh phe phái trong nội bộ Campuchia đã không ít lần gây tác động xấu đến quan hệ giữa hai nước. Đồng thời, những tác động trái chiều của các nhân tố bên ngoài, nhất là từ phía Trung Quốc đã ảnh hưởng trực tiếp lên đường lối đối ngoại của Campuchia và tác động sâu sắc tới mối quan hệ Campuchia - Việt Nam. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài còn nhằm góp phần hiểu thêm những biến động về chính trị, kinh tế và đường lối ngoại giao của Campuchia, qua đó có thể gợi mở cho Việt Nam những đối sách phù hợp trong quan hệ với nước láng giềng ở vùng biên giới Tây Nam của đất nước.

1.4. Đề tài quan hệ Campuchia - Việt Nam (1993 - 2010) Là đề tài mới chưa từng được công bố trước đó. Vì thế, qua nghiên cứu đề tài, chúng tôi mong muốn đóng góp một tài liệu tham khảo quan trọng cho công tác giảng dạy và nghiên cứu lịch sử (kể cả giảng dạy lịch sử quan hệ quốc tế) Trong các trường đại học, cho các nhà hoạt động chính trị, ngoại giao, nhất là những người hiện nay đang trực tiếp quan hệ, giao dịch, tiếp xúc với Campuchia. Từ thực tế nói trên, chúng tôi quyết định chọn vấn đề: “Quan hệ Campuchia

- Việt Nam (1993 - 2010)” làm đề tài luận án tiến sĩ với hy vọng góp phần nghiên cứu quan hệ quốc tế của nội bộ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) Nói chung và quan hệ Campuchia - Việt Nam nói riêng.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1. Việc nghiên cứu của các học giả Việt Nam

Campuchia là một nước láng giềng thân thuộc đối với nhân dân Việt Nam, do vậy, từ lâu quan hệ hai nước đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả, cơ quan nghiên cứu của Việt Nam. Đặc biệt, trong những năm gần đây, việc đẩy mạnh nghiên cứu về đất nước Campuchia và mối quan hệ Campuchia - Việt Nam được nhiều nhà nghiên cứu, nhà lãnh đạo, quản lý Việt Nam nhìn nhận, đánh giá trên nhiều phương diện, phản ánh sự phát triển không ngừng mối quan hệ giữa hai quốc gia, dân tộc.

2.1.1. Những công trình viết chung về lịch sử quan hệ giữa ba nước Đông Dương

Công trình “Về lịch sử văn hóa ba nước Đông Dương” (1983) Do Phạm Nguyên Long, Đặng Bích Hà chủ biên là một tác phẩm được xuất bản khá sớm. Đây là công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, trong đó, tác giả Nguyễn Hào Hùng với bài viết “Lịch sử một thế kỷ liên minh đoàn kết chiến đấu và toàn thắng của nhân dân ba nước Đông Dương” đã dựng lại bức tranh toàn cảnh về mối quan hệ giữa Việt Nam - Campuchia - Lào từ trong lịch sử đấu tranh cho đến đầu thập niên 80 của thế kỷ XX. Tác giả nhìn nhận mối quan hệ khăng khít của ba nước Đông Dương dựa trên nền tảng về văn hóa, lịch sử, xã hội từ thời kỳ thực dân Pháp xâm lược cho đến kết thúc thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Tác giả đã đi sâu phân tích cơ sở hình thành mối quan hệ thiết thân giữa nhân dân ba nước Đông Dương, khẳng định đây không chỉ là mối quan hệ láng giềng truyền thống mà còn là mối quan hệ của các quốc gia cùng chung nguồn cội văn hóa, lịch sử và điều kiện phát triển trong một khu vực “thống nhất nhưng đa dạng”. Tuy không đề cập riêng về quan hệ Campuchia - Việt Nam, nhưng qua đó vẫn thấy được rất nhiều điểm tương đồng tạo nên nền tảng của mối quan hệ này.

Nguyễn Văn Cường trong luận văn thạc sĩ “Hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với Lào và Campuchia (1991 - 2006)” (2007) Trên cơ sở trình bày và phân tích những nhân tố tác động đến quan hệ ba nước đã đề cập đến quan hệ hợp tác Campuchia - Việt Nam trên các lĩnh vực đầu tư, thương mại và giao thông vận tải cũng như dự báo triển vọng hợp tác giữa hai nước trong thời gian tới. Tuy nhiên, do đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là ba chủ thể Việt Nam - Lào Campuchia trong hợp tác kinh tế, nên công trình chưa đi sâu tìm hiểu, khai thác và phân tích cụ thể mối quan hệ Campuchia - Việt Nam trên các lĩnh vực khác và chỉ dừng lại năm 2006.

Phạm Đức Thành và Vũ Công Quý trong công trình “Những khía cạnh dân tộc, tôn giáo, văn hóa trong Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia” (2009) Đã đi vào nghiên cứu những điểm tương đồng nổi bật trên những khía cạnh dân tộc, tôn giáo và văn hóa. Các tác giả đã chỉ ra rằng Việt Nam với Campuchia và Lào đều có những điểm chung, tạo nền tảng vững chắc cho mối quan hệ trong lịch sử. Những điểm chung đó không chỉ giúp ba nước Đông Dương đoàn kết đánh thắng kẻ thù chung mà còn tạo lập vị thế để cả ba quốc gia cùng vươn lên phát triển trong giai đoạn hiện nay.

Trong luận văn thạc sĩ “Hợp tác Việt Nam - Lào - Campuchia ở khu vực Tam giác Phát triển (1999 - 2009)” (2011), Nguyễn Duy Hùng đã bước đầu nêu bật được những thành tựu hợp tác giữa Việt Nam, Campuchia và Lào ở vùng giáp ranh biên giới phía Tây. Tuy nhiên, do đối tượng và phạm vi nghiên cứu khá rộng nên tác giả chưa đi sâu phân tích quan hệ Campuchia - Việt Nam.

2.1.2. Những công trình nghiên cứu về Campuchia hoặc Việt Nam

Phạm Đức Thành là người có nhiều công trình nghiên cứu về đất nước và con người Campuchia, cũng như mối quan hệ giữa Campuchia với Việt Nam trong nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau. Tác phẩm “Lịch sử Campuchia” (1995) Của tác giả là một công trình biên soạn công phu, có tính khái quát về đất nước Khmer. Tuy nhiên, do phạm vi và đối tượng nghiên cứu quá rộng nên tác giả ít đề cập đến mối quan hệ

Campuchia - Việt Nam và nếu có cũng chỉ dừng lại vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Mặc dù vậy, công trình này đã mô tả khái quát đất nước, con người, lịch sử, văn hóa Campuchia từ thời kỳ khởi nguyên đến trước năm 1995, qua đó cho thấy được những điểm tương đồng giữa hai quốc gia, dân tộc là cơ sở cho mối quan hệ Campuchia - Việt Nam ngày nay. Lê Thị Ái Lâm trong đề tài nghiên cứu “Thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội Campuchia từ thập kỷ 90 đến nay” (2006) Đã trình bày thực tiễn phát triển kinh tế xã hội của Campuchia trong giai đoạn đầu cải cách và xây dựng kinh tế thị trường (1994 - 2004), với các nội dung liên quan đến tăng trưởng kinh tế, vấn đề dân số, nguồn nhân lực, thị trường lao động, các vấn đề xã hội… ít nhiều có liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài.

Vũ Dương Huân (chủ biên) Trong “Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp đổi mới (1975 - 2000)” (2002) Đã khái quát chính sách đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội với bối cảnh mới trong nước và thế giới. Do đối tượng nghiên cứu khá rộng, cho nên tác giả chỉ mới đề cập một vài nét cơ bản nhất của quan hệ Việt Nam - Campuchia về chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa - khoa học - kỹ thuật và một số vấn đề còn tồn tại trong quan hệ hai nước như vấn đề biên giới lãnh thổ, vấn đề người Việt tại Campuchia.

2.1.3. Những công trình đề cập chung đến quan hệ Campuchia - Việt Nam

Viện Nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam là cơ quan chuyên trách nghiên cứu về các nước Đông Nam Á, cũng như quan hệ giữa

Việt Nam với các quốc gia trong khu vực. Viện đã cho xuất bản nhiều tài liệu liên quan đến quan hệ Campuchia - Việt Nam, trong đó có nhiều bài nghiên cứu chuyên sâu đi vào phân tích, lý giải thực trạng cũng như xu hướng của mối quan hệ hai nước.

Có thể dẫn ra một số công trình tiêu biểu như: Báo cáo chuyên đề “Quan hệ ViệtNam - Campuchia: Thực trạng và triển vọng”; Đề tài cấp Viện “Quan hệ Việt Nam Campuchia: Hiện trạng và giải pháp” (2006); Hội thảo Khoa học “Quan hệ ViệtNam - Campuchia trong bối cảnh mới: Hợp tác toàn diện cùng phát triển” (2007) quy tụ các nhà khoa học, các chuyên gia có thâm niên nghiên cứu về quan hệ

Campuchia - Việt Nam trong rất nhiều lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, giáo dục và đào tạo, du lịch, y tế… Mặc dù góc độ nhìn nhận khác nhau, thể hiện trên nhiều lĩnh vực, song các học giả đều cho rằng quan hệ Campuchia - Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu lớn lao, ngày càng phát triển đi lên phù hợp với tình hình chung của khu vực và thế giới, cũng như nguyện vọng chính đáng của nhân dân hai nước. Tuy nhiên, nhiều tác giả cũng chỉ ra do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, quan hệ Campuchia - Việt Nam trên nhiều lĩnh vực chưa tương xứng với tiềm năng của hai nước, còn gặp nhiều khó khăn cần phải giải quyết, đồng thời cũng đưa ra một số dự báo khá lạc quan về xu hướng phát triển giữa hai quốc gia trong vài năm. Công trình “Những vấn đề chính trị, kinh tế nổi bật của Campuchia giai đoạn 2011 - 2020 và tác động chủ yếu đến Việt Nam”, Đề tài cấp Bộ - Viện Nghiên cứu

Đông Nam Á (2010) Của Nguyễn Thế Hà và cộng sự đã có những phân tích sâu sắc về những biến động của nội tình đất nước Campuchia trên phương diện kinh tế, chính trị. Qua việc biện giải một số vấn đề liên quan đến thể chế chính trị, tình hình kinh tế của Campuchia cũng như sự gia tăng ảnh hưởng của các nước lớn, đặc biệt là

Trung Quốc và Mỹ đối với Campuchia, các tác giả đã cho thấy tính hai mặt (thuận và trái chiều) Trong mối quan hệ Campuchia - Việt Nam và bước đầu đưa ra những giải pháp mang tính gợi mở cho mối quan hệ này. Tuy nhiên, do xuất phát từ đối tượng nghiên cứu nên các tác giả chưa chú trọng đến phân tích, đánh giá những thành tựu của mối quan hệ Campuchia - Việt Nam cũng như những tác động của vấn đề này đến hai chủ thể và khu vực.

Công trình “Một số giải pháp nhằm phát triển thương mại hàng hóa Việt Nam - Campuchia qua biên giới trên bộ thời kỳ đến năm 2005” (2002) Do Doãn Kế Bôn làm chủ nhiệm cho rằng hoạt động thương mại hàng hóa qua biên giới trên bộ giữa

Việt Nam với Campuchia đã có những diễn biến rất phức tạp và tuy đạt được những thành tựu nhất định, song trên thực tế còn nhiều điều bất cập, từ quản lý đến tổ chức vận hành… Trên cơ sở phân tích, đánh giá những số liệu, sự kiện, các tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển tình hình thương mại giữa hai nước đến năm 2005.

Nguyễn Thanh Đức trong luận văn thạc sĩ “Nhân tố kinh tế trong phát triển quan hệ đối tác chiến lược với Campuchia” (2008) Đã trình bày tổng quan về quan hệ kinh tế Việt Nam - Campuchia giai đoạn 1991 - 2008, trong đó tác giả đánh giá cao nhân tố kinh tế trong mối quan hệ hai nước, khẳng định đây là nhân tố góp phần rất lớn trong sự hình thành và phát triển đối tác chiến lược Việt Nam - Campuchia.

Tác giả cũng nêu lên những triển vọng và kiến nghị phương hướng, giải pháp trong việc phát triển quan hệ hai nước dựa trên cơ sở thực tế đã phân tích, trong đó thấy được tiềm năng và quá trình phát triển đi lên của quan hệ Việt Nam - Campuchia là một tất yếu, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế.

Lâm Ngọc Uyên Trân trong luận văn thạc sĩ “Hợp tác du lịch giữa Việt Nam và Campuchia: Thực trạng và giải pháp” (2008) Nghiên cứu hợp tác du lịch giữa hai nước trong giai đoạn hiện nay, trên cơ sở đó tập trung đề xuất các giải pháp phát triển hợp tác du lịch giữa hai bên.

Nguyễn Sĩ Tuấn trong đề tài cấp Nhà nước “Cơ sở lịch sử, chính trị, xã hội và pháp lý của vùng biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia và đề xuất giải pháp ổn định, phát triển vùng biên giới hai nước” (2006) Đã nhìn nhận vấn đề từ khía cạnh lịch sử, chính trị, xã hội và pháp luật trong quan hệ biên giới lãnh thổ Campuchia Việt Nam. Trên cơ sở phân tích và biện dẫn những tài liệu khoa học, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển vùng biên giới đất liền giữa hai nước.

Lê Thị Trường An trong luận văn thạc sĩ “Quan hệ Việt Nam - Campuchia trong giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ” (2006) Khẳng định việc giải quyết biên giới Việt Nam - Campuchia đã có những bước tiến tốt đẹp trong xu thế quan hệ hai nước trên nhiều lĩnh vực ngày càng phát triển mạnh mẽ. Mặc dù còn nhiều khó khăn, phức tạp do lịch sử để lại cùng với những biến động về chính trị, nội bộ của Campuchia, nhưng tác giả vẫn tin tưởng vào triển vọng tốt đẹp của việc giải quyết vấn đề này trong tương lai. Dưới góc độ Luật quốc tế, tác giả đã nhìn nhận, đánh giá quan hệ biên giới Việt Nam - Campuchia trên góc độ pháp lý, với những dẫn chứng cụ thể và xác thực để từ đó đi vào phân tích bản chất, triển vọng giải quyết vần đề này trong thời gian sắp tới. Tuy nhiên, do giới hạn nghiên cứu, tác giả chỉ mới đề cập đến hoạch định biên giới trên đất liền.

Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Vùng biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia:

Cơ sở lịch sử, chính trị, xã hội, pháp lý và các giải pháp phát triển bền vững, hài hòa” (2009) Của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á đã quy tụ nhiều bài nghiên cứu của các học giả uy tín trong nước. Nhìn chung, các tác giả đều đánh giá cao vai trò, vị thế của vùng biên giới Việt Nam - Campuchia. Trên cơ sở phân tích, lý giải những khía cạnh hợp tác, các tác giả tại hội thảo đã đề ra nhiều giải pháp phát triển bền vững khu vực biên giới hai nước dưới nhiều góc độ khác nhau.

Công trình tập thể “Thực trạng việc phân định vùng biển giữa Việt Nam Campuchia” của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Mã TL1586) Đã góp phần bổ sung cho những nghiên cứu đi trước. Các tác giả đã chỉ rõ, hiện nay vấn đề biên giới trên biển giữa hai nước còn gặp nhiều vướng mắc, chưa thể giải quyết, quan điểm hai bên còn trái chiều nhau. Các tác giả chỉ rõ “diện tích chồng lấn trong vùng biển giữa hai nước Việt Nam và Campuchia là không lớn nhưng do vị trí của vùng biển, yếu tố lịch sử và nguồn lợi hải sản nên đây là vấn đề mà hai bên rất khó giải quyết” [176; 22].

Ngoài ra, một số tạp chí chuyên ngành như Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên cứu quốc tế, Nghiên cứu lịch sử, Tạp chí Cộng sản… có những bài viết đề cập đến quan hệ

Campuchia - Việt Nam. Có thể kể đến như: Bùi Thị Thu Hà có bài “Cuộc khởi nghĩa N’Trang Lơng - một biểu tượng liên minh chiến đấu chống Pháp của nhân dân Việt Nam và Campuchia”, Phạm Đức Thành có bài “Campuchia với Hành lang kinh tế Đông Tây”, Nguyễn Minh Ngọc có bài “Quan hệ Việt Nam - Campuchia và vấn đề phân định biên giới biển tại Vịnh Thái Lan”, Trần Văn Tùng có bài “Quan hệ kinh tế biên giới ViệtNam - Campuchia” … đã đề cập đến một vài khía cạnh nào đó trong một giai đoạn lịch sử của quan hệ hai nước.

2.2. Việc nghiên cứu của các học giả Campuchia

Các học giả người Campuchia luôn quan tâm, xem xét quan hệ Campuchia Việt Nam trên nhiều lĩnh vực và đánh giá dưới nhiều góc độ.

Quốc vụ khanh Bộ Ngoại giao Campuchia Kao Kim Hourn là một trong những người có nhiều công trình nghiên cứu về Campuchia trong giai đoạn hiện nay trên nhiều lĩnh vực, nhất là quan hệ quốc tế của Campuchia với khu vực, thế giới, trong đó có Việt Nam, ông chú ý nêu lên những thách thức, triển vọng quan hệ

Campuchia với các nước khác trong tương lai không xa. Có thể kể đến một số công trình như: Kao Kim Hourn (1998), (1998), “Cambodia - From Crisis to Promise: Building the future”.. Kao Kim Hourn (2004), “Cambodia's ASEAN policy: Cambodia's contribution to Peace and Stability in region” … Những công trình của Kao Kim

Hourn tuy chủ yếu đề cập quan hệ của Campuchia trong cộng đồng ASEAN, quá trình Campuchia trở thành thành viên chính thức của ASEAN vào năm 1999 và sự thay đổi chính sách đối ngoại trong quá trình thực thi quan hệ quốc tế của Campuchia nhưng đã góp phần phân tích những vấn đề liên quan đến quan hệ của Campuchia với các nước khác, trong đó có Việt Nam. Việc nhìn nhận lại con đường đi đầy gian khó của đất nước để tiến lên xây dựng một quốc gia phồn thịnh của các nhà lãnh đạo và nhân dân Campuchia, từ bỏ “khủng hoảng” để “xây dựng tương lai” chính là điều quan trọng nhất khi Campuchia trở thành thực thể mới trong cộng đồng Đông Nam Á.

Tác giả Camaphon trong “Cambodia - Vietnam Political Relations 1979 1989” (2003) Đã cho thấy một giai đoạn khá phức tạp trong quan hệ hai nước. Đề tài tập trung vào “các mối quan hệ giữa hai nước vào thời điểm đó chỉ để phục hồi của nền kinh tế Campuchia, chính trị và tái thiết lập quan hệ Campuchia và Việt Nam một lần nữa, sau khi mối quan hệ này bị cắt đứt, trong năm 1975 - 1979” cũng như những vấn đề liên quan đến cuộc nội chiến tại Campuchia.

Roy Rasmey trong luận văn thạc sĩ “Mâu thuẫn giữa các đảng phái chính trị ởCampuchia: Tác động đối với quan hệ Campuchia - Việt Nam” (2005) Đã trình bày một số vấn đề khó khăn, phức tạp do lịch sử để lại trong quan hệ hai nước như vấn đề biên giới lãnh thổ, vấn đề người Việt tại Campuchia… Roy Rasmey cũng nói rõ thực chất quan hệ Campuchia - Việt Nam theo xu hướng tốt đẹp hay xấu đi, một phần là do sự tranh giành nắm quyền lãnh đạo tại Campuchia, chính mâu thuẫn giữa các đảng phái, lực lượng chính trị trong nội bộ đất nước Campuchia đã gây ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình biên giới giữa hai nước. Tuy nhiên, trên bình diện sâu rộng của mối quan hệ Campuchia - Việt Nam, tác giả khẳng định “những mâu thuẫn và những tác động đó về lâu dài không thể làm thay đổi mối quan hệ truyền thống anh em giữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia được. Đó ngoài là một quy luật ra thì nó cũng có những hệ quả tích cực mà tất cả chúng ta cùng có thể cảm nhận được” [109; 76].

Sok Dareth trong luận văn thạc sĩ “Chính sách của Vương quốc Campuchia đối với Việt Nam từ 1993 đến nay” (2008) Đã cho thấy được chính sách đối ngoại của Campuchia đối với Việt Nam là nhằm đảm bảo quan hệ hòa bình, ổn định tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế, hợp tác đôi bên cùng có lợi, đảm bảo an ninh và lợi ích của hai dân tộc. Do nhận thức được tầm quan trọng về vai trò của ViệtNam đối với môi trường hòa bình, thịnh vượng của đất nước cũng như của khu vực nên Campuchia đã luôn đặt Việt Nam trong ưu tiên chính sách đối ngoại của mình.

Tác giả cũng đã nêu ra bốn nguyên tắc và ba phương châm trong quan hệ của Campuchia đối với Việt Nam. Trong đó, Sok Dareth khẳng định Việt Nam là một nước láng giềng vô cùng quan trọng, trải qua nhiều thăng trầm lịch sử nhưng phương châm của Campuchia đối với Việt Nam vẫn là “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”

Sun Sothiarat trong luận văn thạc sĩ “Đường lối phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống Campuchia - Việt Nam từ 1998 đến nay” (2010) Đã khái quát quan hệ Campuchia - Việt Nam (1991 - 1998) Và phân tích sự phát triển của mối quan hệ hai nước từ năm 1998 đến nay. Qua đó đưa ra triển vọng hợp tác và kiến nghị, những định hướng, mục tiêu cụ thể của Campuchia và Việt Nam trong quan hệ song phương. Bên cạnh đó, Sun Sothiarat cũng chỉ ra quan hệ Campuchia - Việt Nam còn những khó khăn thách thức cần phải vượt qua để thúc đẩy quan hệ hai nước ngày càng phát triển vững chắc hơn trong tương lai.

Trên bình diện rộng hơn, Kong Sokea trong phân tích, đánh giá “Chính sách đối ngoại Campuchia với ASEAN từ năm 1967 đến nay” (2005) Đã cho thấy được chính sách ngoại giao tổng thể của Campuchia đối với khu vực Đông Nam Á, bao gồm cả Việt Nam. Theo tác giả, chính sách ngoại giao của Campuchia đã có nhiều tác động sâu sắc tới hòa bình, ổn định, hợp tác của khu vực cũng như quan hệ song phương Campuchia với mỗi nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam vì Campuchia và Việt Nam là hai thực thể không tách rời của Đông Nam Á và đều là thành viên của ASEAN.

IM. Reachany trong luận văn thạc sĩ “Quan hệ Mỹ - Campuchia sau Chiến tranh lạnh” (2005) Đã phân tích, đánh giá mối quan hệ Campuchia với các nước lớn, qua đó cho thấy sự tác động của Mỹ đối với Campuchia trong hầu hết các lĩnh vực, kể cả chính sách ngoại giao của Campuchia trong khoảng thời gian nói trên. Với góc nhìn này, tác giả đã cho thấy được sự phức tạp trong quan hệ quốc tế liên quan đến chính sách ngoại giao của Campuchia. Suy cho cùng, sự phụ thuộc vào kinh tế và viện trợ nước ngoài đã làm cho Chính phủ Campuchia phải có những đường hướng đối ngoại phù hợp, nhất là đối với các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc... Bên cạnh đó, mâu thuẫn nội bộ, tranh giành quyền lực giữa các phe phái ở Campuchia đã làm sự lệ thuộc vào bên ngoài càng tăng lên, do nhiều lực lượng chính trị muốn dựa vào sức mạnh bên ngoài gia tăng sức ép lên chính phủ đối lập hiện thời. Điều này đã tác động không nhỏ đến quan hệ Campuchia với các nước khác, kể cả Việt Nam.

2.3. Nghiên cứu quan hệ Campuchia - Việt Nam ở các nước khác

Quan hệ giữa Campuchia và Việt Nam được nhiều học giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu từ rất sớm với nhiều đánh giá nhìn nhận vấn đề khác nhau. Mối quan hệ này đã một thời là tâm điểm chú ý khai thác của những nhà nghiên cứu quan tâm đến cuộc chiến tại Đông Dương và quá trình hòa giải dân tộc ở Campuchia những năm 50 đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. 11Leiglton Marian Kirsh (1978) Trong “Perspectives on the Vietnam - Cambodia border conflict”, Asian Survey Vol XVIII, No 5 (p. 448 - 457). Lau Teik Soon (1982) “Asian and the Cambodia Problem”, Asian Survey Vol XXII, No 6 (p. 548-561) Và “Cambodia - Vietnamese Relations” (1986), Asian Survey Vol XXII, No 6 (p. 440 451) … Những bài viết này đã tập trung đi sâu vào các sự kiện, trên cơ sở đó phân tích, đánh giá tình hình Campuchia từ thập niên 70 đến giữa thập niên 80 của thế kỷ XX. Các tác giả nhận định Vấn đề Campuchia là một vấn đề phức tạp khó khăn trong quan hệ quốc tế giai đoạn này. Đó là sự căng thẳng trong quan hệ giữa các nước ASEAN và ba nước Đông Dương về Vấn đề Campuchia, cũng như sự can thiệp của các thế lực bên ngoài. Các tác giả cũng đề cập đến quan hệ Campuchia - Việt Nam những năm cuối thập niên 70 đến giữa thập niên 80 với những thăng trầm trong từng thời kỳ lịch sử nhất định.

Năm 1989, Dike & Douglas trong bài “The Cambodia Peace Process: Summer of 1989”, Asian Survey, 1989, Vol XXIX, No 9 (p. 842 - 852) Khẳng định việc rút quân tình nguyện Việt Nam ra khỏi Campuchia đã mở đường cho bước ngoặt quan hệ trong khu vực, giữa ASEAN với ba nước Đông Dương, mở ra trang mới trong quan hệ Việt Nam - Campuchia. Tuy nhiên, do bị chi phối bởi hoàn cảnh lịch sử nên quan điểm đánh giá Vấn đề Campuchia và quan hệ Việt Nam Campuchia, ASEAN - Đông Dương của tác giả có những điểm cần phải trao đổi, bàn luận thêm.

Bên cạnh đó, có thể kể đến Hal Kosut trong “Cambodia and the Vietnam war”, New York, 1971. Area Handbook Series, “Cambodia, A Country Study”, DA pam 550-50, Washington, 1987… Những công trình này chủ yếu tập trung xem xét mối quan hệ Campuchia - Việt Nam trong bối cảnh cuộc chiến tranh Đông Dương và nội chiến ở Campuchia.

Một số học giả lại tiếp cận về mối quan hệ Campuchia - Việt Nam trong bối cảnh lịch sử khu vực. Chang Pao Min trong công trình “Kampuchea between China and Viet Nam”, Singapore University Presses, 1987 đã đề cập đến một thời điểm nhạy cảm của lịch sử Campuchia và khu vực, qua đó cho thấy Campuchia trong quan hệ quốc tế luôn chịu sự tác động từ bên ngoài, đặc biệt là sự ảnh hưởng của Trung Quốc đối với chính sách ngoại giao của Campuchia.

----------------------------------------------------------Luận án tiến sĩ lịch sử gồm gần 250Tr có nội dung như sau:
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu và nguồn tư liệu
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6. Đóng góp của đề tài
7. Bố cục luận án

Chương 1. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QUAN HỆ CAMPUCHIA - VIỆT NAM (1993 - 2010)

1.1. Nhân tố lịch sử, văn hóa và địa chiến lược
1.1.1. Khái quát quan hệ Campuchia - Việt Nam trước năm 1993
1.1.2. Nhân tố địa văn hóa và địa chiến lược
1.2. Bối cảnh quốc tế và khu vực
1.3. Nhu cầu và chính sách đối ngoại của Campuchia và Việt Nam
1.3.1. Nhu cầu hợp tác của hai nước
1.3.2. Chính sách đối ngoại của Campuchia
1.3.3. Chính sách đối ngoại của Việt Nam

Chương 2. QUAN HỆ CAMPUCHIA - VIỆT NAM TRÊN CÁC LĨNH VỰC (1993 - 2010)

2.1. Trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao
2.2. Trên lĩnh vực an ninh
2.2.1. Vấn đề biên giới lãnh thổ
2.2.2. Hợp tác đối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống
2.3. Vấn đề người Việt tại Campuchia
2.4. Trên lĩnh vực kinh tế
2.4.1. Quan hệ thương mại
2.4.2. Hợp tác đầu tư
2.4.3. Hợp tác giao thông vận tải
2.5. Trên một số lĩnh vực khác
2.5.1. Hợp tác về giáo dục và đào tạo
2.5.2. Hợp tác về du lịch
2.5.3. Hợp tác về y tế
2.6. Trong khuôn khổ hợp tác đa phương
2.6.1. Trong tổ chức ASEAN
2.6.2. Trong sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực Tam giác Việt Nam -
Lào - Campuchia
2.6.3. Trong sự phát triển Tiểu vùng sông Mekong

Chương 3. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VỀ QUAN HỆ CAMPUCHIA - VIỆT NAM (1993 - 2010)

3.1. Tổng quan về thành tựu và hạn chế trong quan hệ hai nước
3.2. Một vài đặc điểm trong quan hệ Campuchia - Việt Nam giai đoạn 1993 - 2010
3.3. Những tác động của quan hệ Campuchia - Việt Nam đến chủ thể hai nước vàkhu vực
3.3.1. Đối với Campuchia
3.3.2 Đối với Việt Nam
3.3.3 Đối với khu vực
3.4. Triển vọng của quan hệ Campuchia - Việt Nam
3.4.1. Những thuận lợi
3.4.2 Những khó khăn, thách thức
3.4.3. Dự báo triển vọng quan hệ

KẾT LUẬN

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

ACMECS Ayeyarwady - Chao Praya - Mekong Economic Cooperation Strategy Tổ chức Chiến lược hợp tác kinh tế Ayeyarwady Chao Phraya - Mekong
ADB Asian Development Bank: Ngân hàng phát triển châu Á
AFTA ASEAN Free Trade Area: Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á
ASEAN AIA ASEAN Investment Area: Khu vực đầu tư ASEAN
APEC Asia Pacific Economic Cooperation: Diễn đàn kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
ARF ASEAN Regional Forum: Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN
ACMECS Ayeyarwady - Chao Praya - Mekong Economic Cooperation Strategy
Tổ chức Chiến lược hợp tác kinh tế Ayeyarwady - Chao Phraya - Mekong
ADB Asian Development Bank: Ngân hàng phát triển châu Á
AFTA ASEAN Free Trade Area: Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á
ASEAN AIA ASEAN Investment Area: Khu vực đầu tư ASEAN
APEC Asia Pacific Economic Cooperation: Diễn đàn kinh tế châu Á - Thái
Bình Dương ARF ASEAN Regional Forum: Diễn đàn khu vực ASEAN
ASEAN Association of Southeast Asian Nations: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEM The Asia-Europe Meeting: Diễn đàn hợp tác Á - Âu
BRICS Nhóm các nước Barazin - Nga - Ấn Độ - Trung Quốc - Nam Phi
CDC The Council for Development of Cambodia: Hội đồng Phát triển Campuchia
CEPT Common Effective Preferential Tariff: Chương trình ưu đãi thuế quancó hiệu lực chung
CIB Cambodian Investment Board: Ủy ban Đầu tư Campuchia
CLVM Cambodia - Laos - Myanmar - Vietnam Summit: Hợp tác Campuchia - Lào - Myanmar - Việt Nam
CNRP Đảng Cứu quốc Campuchia
CPP Cambodia People’s Party: Đảng Nhân dân Campuchia
FUNCINPEC Đảng Mặt trận thống nhất dân tộc vì một nước Campuchia Độc lập, Trung lập, Hòa bình và Thống nhất
GDP Gross Domestic Product: Tổng sản phẩm quốc nội
GMS Greater Mekong Subregion: Hợp tác tiểu vùng sông Mekong mở rộng
NAFTA The North American Free Trade Agreement: Hiệp định thương mại tựdo Bắc Mỹ
NAM Non-Aligned Movement: Phong trào Không liên kết
UN United Nations: Liên Hợp Quốc
UNTAC United Nations Transitional Authority in Cambodia: Cơ quan quyềnlực lâm thời Liên Hợp Quốc ở Campuchia
USD United States dollar: Đồng đô la Mỹ
WTO World Trade Organization: Tổ chức Thương mại thế giới
CA-TBD Châu Á - Thái Bình Dương
CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân
CHND Cộng hòa nhân dân
CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CNXH Chủ nghĩa xã hội
ĐBTQ Đại biểu toàn quốc
LHS Lưu học sinh
NDCM Nhân dân cách mạng
TBCN Tư bản chủ nghĩa
XHCN Xã hội chủ nghĩa

DANH MỤC NHỮNG CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN  

1. Trần Xuân Hiệp (2010), “Quan hệ an ninh-chính trị Việt Nam với Lào và Campuchia giai đoạn 1991 đến nay”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6 (410).
2. Hoàng Thị Minh Hoa, Trần Xuân Hiệp (2011), “Quan hệ Việt Nam Campuchia (1993-2008)”, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Quan hệ Việt Nam-Asean Taiwan. Đại học Huế-Đại học Chinan (Đài Loan)-Đại học Khoa học Huế-Viện nghiên cứu Đông Nam Á.
3. Trần Xuân Hiệp (2011), Quan hệ an ninh-chính trị, kinh tế giữa Việt Nam với Campuchia (1993-2007), Đề tài cấp cơ sở, Đại học Duy Tân, Đà Nẵng.
4. Trần Xuân Hiệp (2011), “Hợp tác thương mại và đầu tư Việt Nam-Campuchia (1998-2010)”, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế: Hội nhập: Hợp tác và cạnh tranh, Nxb Thống Kê.
5. Tran Xuan Hiep (2012), “Vietnam-Cambodia cooperation in Greater Mekong Sub-Region”, The Fifth SNRU International Conference on Cooperation for Development on the East-West Economic Corridor: Cooperation Networks for Sustainable Development towards ASEAN Community, Sakon Nakhon Rajabhat University, Thailand.
6. Hoàng Thị Minh Hoa, Trần Xuân Hiệp (2012), “Việt Nam với hợp tác, liên kết trong Tam giác phát triển”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 10 (151).
7. Trần Xuân Hiệp (2012), “Hợp tác an ninh-quốc phòng Việt Nam-Campuchia đầu thế kỷ XXI”, Tạp chí Nghiên cứu Ấn Độ và châu Á, số 3 (3).
8. Trần Xuân Hiệp (2013), “Hợp tác Giao thông vận tải Việt Nam-Campuchia trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, số 1 (2).
9. Trần Xuân Hiệp (2013), “Hợp tác du lịch Campuchia-Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2 (155).
10. Trần Xuân Hiệp (2013), Mĩ-Cambodia-Trung Quốc và những tác động từ mối quan hệ này, Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh, số 46 (80).
11. Trần Xuân Hiệp (2013), “Campuchia trong quan hệ với Mỹ và Trung Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu Ấn Độ và châu Á, số 5(6). 210
12. Hiep Xuan Tran (2013), “Education and training cooperation Vietnam Cambodia in the current period”, The Journal of Interdisciplinary Networks, Volume 2 (Special Issue), No.1, The Royal Institute of Thailand.
13. Trần Xuân Hiệp (2013), “Hợp tác Việt Nam-Campuchia trong tiểu vùng sông Mekong mở rộng”, Tạp chí Khoa học và Giáo dục Đại học Sư phạm Đà Nẵng, số 8(03).
14. Trần Xuân Hiệp (2013), “Hợp tác giáo dục và đào tạo Việt Nam-Campuchia (1993-2010)”, Tạp chí Đại học Sài Gòn, số 17 (11/2013).  

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Thị Trường An (2006), Quan hệ Việt Nam-Campuchia trong giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ, Luận văn Thạc sĩ Học viện Ngoại giao, Hà Nội.
2. Ban chấp hành Trung ương-Ban đối ngoại (Vụ Châu Á 2-Bộ Ngoại giao), Báo cáo kết quả đi công tác Campuchia, Hà Nội ngày 8/6/2011.
3. Ban Liên lạc cựu Chuyên gia Việt Nam giúp Campuchia (2007), Kỷ yếu 8 năm hoạt động của Ban Liên lạc cựu chuyên gia Việt Nam giúp Campuchia (1998 2006), Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội.
4. Bản tin trực tuyến Asia Times, “Kampuchia between Chine and US”, New Delhi ngày 24/7/2008.
5. Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương-Ban Biên giới, Bộ Ngoại giao (2006), Hỏi, đáp về biên giới đất liền Việt Nam-Campuchia, Nxb Thế giới, Hà Nội.
6. Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương-Ban biên giới, Bộ Ngoại giao (2006), Các văn bản pháp lý về việc giải quyết biên giới Việt Nam-Campuchia, Nxb Thế giới, Hà Nội.
7. Báo Quốc tế, Việt Nam-Campuchia: tăng cường hợp tác trên nhiều lĩnh vực, ngày 21/12/1998.
8. Báo Thế giới và Việt Nam, Việt Nam-Campuchia ký 5 văn kiện hợp tác, ngày
14/11/2008.
9. Biên bản Thỏa thuận kỳ họp lần thứ 11 Ủy ban Hỗn hợp Campuchia-Việt Nam về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa Chính phủ Vương quốc Campuchia và Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam tại Prẹxihanúc, ngày 4/12/2009.
10. Biên bản Thỏa thuận kỳ họp lần thứ 12 Ủy ban Hỗn hợp Campuchia-Việt Nam về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ giữa Chính phủ Vương quốc Campuchia và Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam tại Hà Nội, ngày 23/8/2011.
11. Nguyễn Đình Bin (cb,2002), Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
12. Bộ Công thương số 7562/BCT-TMMN, V/v Báo cáo tình hình thương mại biên giới Việt Nam-Campuchia thời kỳ 2001-6/2008, Hà Nội ngày 26/8/2008. 212
13. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hội nghị Tổng kết hợp tác Giáo dục Việt Nam Campuchia, Hà Nội ngày 17/12/2010.
14. Bộ Giao thông vận tải, V/v: Đề án Chiến lược hợp tác Việt Nam-Campuchia giai đoạn 2011-2020, Hà Nội tháng 2/2011.
15. Bộ Kế hoạch và Đầu tư nước CHXHCN Việt Nam-Hội đồng Phát triển Vương quốc Campuchia: Bản ghi nhớ giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư nước CHXHCN Việt Nam và Hội đồng Phát triển Vương quốc Campuchia về xúc tiến đầu tư tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 25-26/12/2009.
16. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2010), Báo cáo tình hình thực hiện các thỏa thuận về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật với Campuchia năm 2010 và kế hoạch hợp tác năm 2011, Hà Nội.
17. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2010), Báo cáo tình hình hợp tác giữa Việt Nam và Campuchia giai đoạn 2001-2010 và những vấn đề đặt ra trong giai đoạn 2011 2020, Hà Nội.
18. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2010), Tình hình đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam tại Campuchia, Hà Nội.
19. Bộ Kế hoạch và Đầu tư-Viện Chiến lược (2010), Báo cáo tổng hợp rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội Tam giác Phát triển Campuchia-Lào-Việt Nam đến năm 2020, Hà Nội.
20. Bộ Ngoại giao-số 1237/BC-BNG-ĐNA-m, Hội nghị Hợp tác và phát triển các tỉnh biên giới Campuchia-Việt Nam lần thứ 6, Thủ đô Phom Penh, ngày 2
3/8/2010: Báo cáo chung về tình hình hợp tác các tỉnh biên giới Campuchia-Việt Nam từ Hội nghị lần thứ 5 đến nay, Hà Nội ngày 11/8/2010.
21. Bộ Tài chính, số 16/2006/TT-BTC, Thông tư ban quy định chế độ suất cho đào tạo học sinh Lào và Campuchia học tập tại Việt Nam, Hà Nội ngày 7/3/2006.
22. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch-Cục Hợp tác quốc tế, Báo cáo tóm tắt Hợp tác về Văn hóa, Thể thao và Du lịch giữa Việt Nam-Campuchia năm 2009, Hà Nội tháng 2/2010.
23. Bộ Y tế, số 5551/BYT-QT, V/v báo cáo kết quả chuyến thăm chính thức ngành y tế Campuchia, Hà Nội ngày 19/8/2010. 213
24. Bộ Y tế, số 7295/BYT-QT, Báo cáo kết quả hợp tác từ kỳ họp lần thứ 11 đến nay để chuẩn bị cho kỳ họp lần thứ 12 Ủy ban Hỗn hợp Việt Nam-Campuchia tại Hà Nội ngày 26/10/2010.
25. Doãn Kế Bôn và cộng sự (2002), Một số giải pháp nhằm phát triển thương mại hàng hóa Việt Nam-Campuchia qua biên giới trên bộ thời kỳ đến năm 2005, Đề tài cấp Bộ (Mã số: 2001-78-055)-Đại học Thương mại Hà Nội.
26. “Chiến lược tứ giác” phát triển của Chính phủ Hoàng gia giai đoạn II (từ năm 2008 đến năm 2013), Bản dịch từ tiếng Khmer của Thương vụ Việt Nam tại Campuchia, PhnomPenh ngày 26/9/2008.
27. Chhouet Sopeak (2009), Hợp tác Campuchia-Việt Nam từ năm 1993 đến nay, Luận văn Thạc sĩ Học viện Ngoại giao, Hà Nội.
28. Công văn của Bộ Thương mại Việt Nam, Báo cáo quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Campuchia, số 3463 TM/CA-TB ngày 31/8/2001.
29. Nguyễn Văn Cường (2007), Hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với Lào và Campuchia (1991-2006), Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm Huế.
30. Nguyễn Duy Dũng (2009), “Cửa khẩu Bờ Y-Khu kinh tế động lực trong Tam giác phát triển Việt Nam-Lào-Campuchia”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số (4), tr.25-31.
31. Đại sứ quán Việt Nam tại Campuchia, Báo cáo tình hình học tập sinh hoạt của LHS Việt Nam tại Campuchia; kết quả hợp tác về giáo dục với Campuchia, Hà Nội ngày 17/12/2010.
32. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự Thật, Hà Nội.
33. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
34. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
35. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
36. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 214
37. Đặc san của Báo Thế giới và Việt Nam-Bộ Ngoại giao (2007), 40 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam – Campuchia, Hà Nội.
38. Đinh Ngọc Đức (2004), Hợp tác phát triển du lịch Việt Nam-Campuchia: Hiện trạng và triển vọng, Các báo cáo chuyên đề về quan hệ Việt Nam-Campuchia: thực trạng và triển vọng, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Hà Nội.
39. Nguyễn Thanh Đức (2008), Nhân tố kinh tế trong phát triển quan hệ đối tác chiến lược với Campuchia, Luận văn Thạc sĩ Học viện Ngoại giao, Hà Nội.
40. Nguyễn Thị Hồng Hà (2003), Tác động của việc Việt Nam gia nhập ASEAN đối với hợp tác ba nước Việt Nam-Lào-Campuchia, Luận văn Thạc sĩ Học viện Ngoại giao, Hà Nội.
41. Bùi Thị Thu Hà (2006), “Cuộc khởi nghĩa N’ Trang Lơng-một biểu tượng liên minh chiến đấu chống Pháp của nhân dân Việt Nam và Campuchia”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (6), tr.60-63.
42. Nguyễn Văn Hà và cộng sự (2010), Những vấn đề chính trị, kinh tế nổi bật của Campuchia giai đoạn 2011-2020 và tác động của yếu đến Việt Nam, Đề tài cấp Bộ -Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Hà Nội.
43. Hiệp định về vùng nước lịch sử của nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Campuchia ký ngày 7/7/1982.
44. Hiệp định về quy chế biên giới quốc gia giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Campuchia ký ngày 20/7/1983.
45. Hiệp định vận tải đường bộ giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Hoàng gia Campuchi ký ngày 1/6/1998.
46. Hiệp định Tín dụng giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam với Chính phủ Vương quốc Campuchia VC-01 ký ngày 10/10/2005.
47. Hiệp định giữa Chính phủ Hoàng gia Vương quốc Campuchia và Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về Kiểm dịch Y tế biên giới ký ngày 6/3/2006.
48. Hiệp định quá cảnh hàng hóa giữa Chính phủ Hoàng gia Campuchia và Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam ký ngày 4/11/2008.
49. Hiệp định giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Hoàng gia Campuchia về vận tải đường thủy ký ngày 17/12/2009. 215
50. Hiệp ước hòa bình hữu nghị và hợp tác giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Campuchia ký ngày 18/2/1979.
51. Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Campuchia ký ngày 20/7/1983.
52. Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Campuchia ký ngày 27/12/1985.
53. Hiệp ước giữa nước CHXHCN Việt Nam và Vương quốc Campuchia bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia năm 1985 ký ngày 10/10/2005.
54. Hội Hữu nghị Việt Nam-Campuchia, Báo cáo kết quả Đoàn đại biểu Nhân dân Việt Nam đi dự các hoạt động kỷ niệm và giao lưu hữu nghị tại Campuchia từ ngày 22-26/6/2007, Hà Nội.
55. Hội Hữu nghị Việt Nam-Campuchia, Báo cáo hoạt động 6 tháng đầu năm và chương trình công tác 6 tháng cuối năm 2010, Hà Nội.
56. Hội Liên hiệp ADHOC (1999), Hiến pháp của Vương quốc Campuchia năm 1993 (Bản dịch từ tiếng Khmer), Nxb Hội liên hiệp ADHOC, Phnom Penh.
57. Hợp tác y tế Việt Nam-Campuchia: Tiềm năng còn bỏ ngỏ, Hồ sơ Sự kiện số 224 (chuyên san Tạp chí Cộng sản ngày 14/6/2012), tr.30-32.
58. Vũ Dương Huân (cb,2002), Ngoại giao Việt Nam vì sự nghiệp đổi mới (1975 2000), Học viện Quan hệ Quốc tế.
59. Nguyễn Hào Hùng (1983), “Lịch sử một thế kỷ liên minh đoàn kết chiến đấu và toàn thắng của nhân dân ba nước Đông Dương”, đăng trong Về lịch sử, văn hóa ba nước Đông Dương (Phạm Nguyên Long, Đặng Bích Hà cb), Viện Đông Nam Á, tr.7-68.
60. Nguyễn Hào Hùng (2004), Về những nhân tố thuận lợi và khó khăn trong quan hệ Việt Nam-Lào hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số (3), tr.25-28.
61. Nguyễn Duy Hùng (2011), Hợp tác Việt Nam-Lào-Campuchia ở khu vực Tam giác Phát triển (1999-2009), Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm Huế.
62. IM.Didotevi (2005), Tác động của việc mở rộng ASEAN đến chính sách đối ngoại của Campuchia, Luận văn Thạc sĩ Học viện Ngoại giao, Hà Nội.
63. IM.Reachany (2005), Quan hệ Mỹ-Campuchia sau Chiến tranh lạnh, Luận văn Thạc sĩ Học viện Ngoại giao, Hà Nội. 216
64. Kao Kim Hourn & Samrang Komsan (2004), Campuchia trong thiên niên kỷ mới, học hỏi kinh nghiệm quá khứ và xây dựng tương lai (Bản dịch từ tiếng Khmer), Nxb-CICP, Phnom Penh.
65. Kế hoạch hợp tác giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo nước CHXHCN Việt Nam và Bộ Giáo dục, Thanh niên và Thể thao Vương quốc Campuchia ký ngày 31/8/2010 tại Hà Nội.
66. Trần Khánh (2007), “Những thách thức đối với xây dựng cộng đồng an ninh ASEAN”, đăng trong ASEAN: 40 năm nhìn lại và hướng tới, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.154-164.
67. Kong Sokea (2005), Chính sách đối ngoại Campuchia với ASEAN từ năm 1967 đến nay, Luận văn Thạc sĩ Học viện Ngoại giao, Hà Nội.
68. Lao động, Hội nghị hợp tác phát triển thương mại biên giới Việt Nam Campuchia: Giao thương giữa hai nước tăng tốc, ngày 7/5/2010.
69. Lê Thị Ái Lâm (2006), Thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội Campuchia từ thập kỷ 90 đến nay, Đề tài cấp Viện, Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới, Hà Nội.
70. Nguyễn Kim Lân (28/5/2007), Hợp tác quốc phòng Việt Nam-Campuchia, Viện Chiến lược-Bộ Quốc phòng, Hà Nội.
71. Vũ Tuyết Loan (5/2007), “40 năm quan hệ Việt Nam-Campuchia: Nhìn lại và triển vọng”, Hội thảo khoa học quan hệ Việt Nam-Campuchia trong bối cảnh mới: Hợp tác toàn diện cùng phát triển, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á.
72. Trần Long, Thời báo Kinh tế Việt Nam và Thế giới số 6/8/2010, tr.4.
73. Đinh Xuân Lý (2001), Tiến trình hội nhập Việt Nam-ASEAN, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
74. Hồ Chí Minh (1976), Kết hợp chặt chẽ lòng yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản, Nxb Sự thật, Hà Nội.
75. Hồ Chí Minh toàn tập (2000), tập 10, Trả lời phỏng vấn Nhà báo Mỹ Ely Maysi (9/1947), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
76. Nghị định thư về Hợp tác Du lịch giai đoạn 1999-2000 giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam với Bộ Du lịch Campuchia ký ngày 13/12/1998.
77. Nghị định thư về Hợp tác giáo dục và đào tạo giai đoạn 2006-2010 giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo nước CHXHCN Việt Nam và Bộ Giáo dục Thanh niên và Thể thao Vương quốc Campuchia ký ngày 10/10/2005 tại Hà Nội. 217
78. Nguyễn Minh Ngọc (9/2009), “Quan hệ Việt Nam-Campuchia và vấn đề phân định biên giới biển tại Vịnh Thái Lan”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 3(78), tr.61-74.
79. Nhân dân, Ba dân tộc Việt-Miên-Lào đoàn kết đấu tranh đến cùng, ngày
7/4/1951.
80. Nhân dân, Các thành phố, tỉnh Việt Nam kết nghĩa với các thành phố, tỉnh Campuchia, ngày 15/02/1984.
81. Nhân dân, Sự hợp tác toàn diện Việt Nam-Campuchia đang phát triển tốt đẹp, ngày 11/10/1985.
82. Nhân dân, Việt Nam ủng hộ lập trường đúng đắn và thái độ thiện chí của Cộng hòa Nhân dân Campuchia, ngày 2/10/1987.
83. Nhân dân, Thông cáo chung Việt Nam-Campuchia, ngày 3/4/1994.
84. Nhân dân, Chủ tịch nước Lê Đức Anh thăm hữu nghị chính thức Campuchia, ngày 10/8/1995.
85. Nhân dân, Việt Nam sẽ tiếp tục nỗ lực đóng góp cho các hoạt động của Liên Hợp Quốc vì hòa bình và phát triển, ngày 21/9/1998.
86. Nhân dân, Thủ tướng Chính phủ Hoàng gia Campuchia Hun Xen thăm hữu nghị chính thức Việt Nam, hội đàm với Thủ tướng Phan Văn Khải, ngày 14/12/1998.
87. Nhân dân, Lễ kết nạp Vương quốc Campuchia vào ASEAN, ngày 1/5/1999.
88. Nhân dân, Tuyên bố chung Việt Nam-Campuchia nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức sang Campuchia của Tổng Bí thư Ban chấp hành Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu, ngày 11/6/1999.
89. Nhân dân, Tìm kiếm thị trường mới, ngày 4/2/2005.
90. Nhân dân, Thắng lợi mới của quan hệ Việt Nam-Campuchia, ngày 7/12/2005.
91. Nhân dân, Ngày 7/1/1979, một ngày đẹp nhất về tình hữu nghị Việt Nam Campuchia, ngày 6/1/2009.
92. Nhân dân, Quốc vương Campuchia Nô-rô-đôm Xi-ha-mu-ni đón, hội đàm với Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, ngày 18/12/2009.
93. Nhân dân, Tuyên bố chung Việt Nam-Campuchia ngày 19/12/2009 tại Phnompenh, ngày 20/12/2009.
94. Nhân dân, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tiếp Quốc vương Campuchia Nô rô-đôm Xi-ha-mô-ni, ngày 24/6/2010. 218
95. Nhân dân, Việt Nam giúp Campuchia xóa bỏ chế độ diệt chủng, hồi sinh đất nước-một sự nghiệp cao cả, sáng ngời chính nghĩa, ngày 6/2/2011.
96. Nhân dân, Cộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN-45 năm hợp tác và phát triển, ngày 9/8/2012.
97. Nguyễn Văn Nhật (1981), “Tình đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung của nhân dân ba nước Đông Dương từ 1945 tới nay”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 1, tr45-56.
98. Lương Ninh (cb,2008), Lịch sử Đông Nam Á, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
99. Phát biểu của Samdech Akka Mohasena Padei Techo Hunsen, Thủ tướng Chính phủ Hoàng gia Campuchia tại diễn đàn kinh tế Campuchia lần thứ 3 với chủ đề “Tăng cường tính cạnh tranh của Campuchia đối với vấn đề tăng trưởng và giảm đói nghèo trong việc đối mặt với khủng hoảng kinh tế toàn cầu” tại Khách sạn Le Royal ngày 5/2/2009, Phnom Penh, Vương quốc Campuchia.
100. Phát biểu của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam Võ Hồng Phúc tại Hội nghị xúc tiến đầu tư Việt Nam-Campuchia lần thứ 2, Phnom Penh ngày 24/4/2011.
101. Phát biểu của Ngài Nguyễn Tấn Dũng-Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam tại Hội nghị xúc tiến đầu tư Việt Nam-Campuchia lần thứ 2, Phnom Penh ngày 24/4/2011.
102. Phụ nữ Việt Nam số 119, Chiến lược hợp tác phát triển lưu vực sông Mê Công, ngày 1/10/2004.
103. Mai Thị Phú Phương (1996), Quan hệ Việt Nam-Nhật Bản từ 1973 đến nay, Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà Nội.
104. Phạm Thị Phương (1999), Tình hình Campuchia từ 1991-1999, Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Lịch sử thế giới cận hiện đại, Đại học Quốc gia Hà Nội.
105. Nguyễn Ngọc Quang (2004), “Hợp tác giáo dục-đào tạo Việt Nam Campuchia”, Các báo cáo chuyên đề về quan hệ Việt Nam-Campuchia: thực trạng và triển vọng, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á.
106. Nguyễn Trần Quế (1999), Những vấn đề toàn cầu ngày nay, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 219
107. Quy chế công tác người nước ngoài học tại Việt Nam (Ban hành theo quyết định số 33/1999/QĐ-BGD&ĐT ngày 25/8/1999 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), Chương V: Nhiệm vụ và quyền hạn của lưu học sinh.
108. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội Tam giác phát triển Việt Nam Lào-Campuchia, Tài liệu Viện Nghiên cứu Đông Nam Á.
109. Roy Rasmey (2005), Mâu thuẫn giữa các đảng phái chính trị ở Campuchia: Tác động đối với quan hệ Campuchia-Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Học viện Ngoại giao, Hà Nội.
110. Sài Gòn giải phóng, Cuộc họp cấp cao Thủ tướng ba nước Việt Nam-Lào Campuchia: Lập Ủy ban Điều phối chung về Tam giác Phát triển, ngày 6/12/2006.
111. Sok Dareth (2008), Chính sách của Vương quốc Campuchia đối với Việt Nam từ 1993 đến nay, Luận văn Thạc sĩ Học viện Ngoại giao, Hà Nội.
112. Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh (2005), Báo cáo “chuyến nghiên cứu, khảo sát tuyến du lịch Caravan Bangkok-Siem Riep-Phnom Penh-Thành phố Hồ Chí Minh”.
113. Hoàng Ngọc Sơn (2003), Lịch sử đàm phán giải quyết biên giới Việt Nam Campuchia (1954-2001), Tạp chí Biên giới và Lãnh thổ, số 14, tr.9-10.
114. Nguyễn Thanh Sơn (2005), Trọn đời theo Bác Hồ, Nxb Trẻ.
115. Hồ Xuân Sơn, Công tác biên giới lãnh thổ: Năm kết quả nổi bật, Báo Thế giới và Việt Nam ngày 2/2/2011.
116. Sun Sothiarat (2010), Đường lối phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống Campuchia-Việt Nam từ 1998 đến nay, Luận văn Thạc sĩ Học viện Ngoại giao, Hà Nội.
117. Tạp chí Dọc ngang Đông Nam Á-tháng 2/2008.
118. Phạm Đức Thành (1995), Lịch sử Campuchia, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
119. Phạm Đức Thành (2004), Quan hệ Việt Nam-Campuchia, Báo cáo chuyên đề về quan hệ Việt Nam-Campuchia: thực trạng và triển vọng, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á.
120. Phạm Đức Thành (2008), “Campuchia với Hành lang kinh tế Đông – Tây”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 11, tr.41-46.
121. Phạm Đức Thành, Vũ Công Quý (cb,2009), Những khía cạnh dân tộc, tôn giáo, văn hóa trong Tam giác phát triển Việt Nam-Lào-Campuchia, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
122. Nguyễn Hồng Thao (2006), “Các khía cạnh pháp lý của Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới Việt Nam-Campuchia 1985”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8, tr.65-69.
123. Nguyễn Xuân Thiên, Trần Văn Tùng (2009), “Quan hệ thương mại Việt Nam Campuchia”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, số 9 (161), tr.42-50.
124. Thông cáo chung Hội nghị về Hợp tác và Phát triển giữa các tỉnh biên giới Việt Nam-Campuchia lần thứ 2, ngày 29/9/2005.
125. Thông cáo chung Hội nghị Hợp tác và Phát triển các tỉnh biên giới Việt Nam Campuchia lần thứ 6 tại Phnom Penh, ngày 2-3/8/2010.
126. Thông tấn xã Việt Nam, Các tỉnh và thành phố phía Nam tích cực giúp đỡ nhân dân Campuchia khôi phục lại mạng lưới giao thông vận tải, ngày 10/11/1979.
127. Thông tấn xã Việt Nam, Phát biểu của Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức Campuchia ngày 18/2/1979, Tin Thế giới ngày 4/1/1981.
128. Thông tấn xã Việt Nam, Nội dung Dự thảo Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia, Hội đồng Nhân dân Campuchia công bố ngày 10/3/1981, TTG số 073, ngày 14/3/1981.
129. Thông tấn xã Việt Nam, Các lãnh đạo Campuchia tiếp Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm, ngày 1/3/1997.
130. Thông tấn xã Việt Nam, Lên án hành động khủng bố dã man nhằm vào Việt kiều tại Campuchia, ngày 20/4/1998.
131. Thông tấn xã Việt Nam, Chính phủ và nhân dân Việt Nam luôn quan tâm sâu sắc đến vấn đề Việt kiều ở Campuchia, ngày 16/7/1998.
132. Thông tấn xã Việt Nam, Tuyên bố của Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài về những hành động tội ác chống kiều dân Việt Nam ở Campuchia, ngày 8/9/1998. 221
133. Thông tấn xã Việt Nam, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm tiếp Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Lào và Bộ trưởng cao cấp, Bộ trưởng Ngoại giao và Hợp tác Quốc tế Campuchia, ngày 29/4/1999.
134. Thông tấn xã Việt Nam, Đoàn Đại biểu Đảng ta dự Đại hội Đảng FUNCINPEC Campuchia, ngày 22/3/2001.
135. Thông tấn xã Việt Nam, Hội nghị lần thứ hai giữa Thủ tướng ba nước Việt Nam, Campuchia và Lào về xây dựng Tam giác Phát triển, ngày 26/1/2002.
136. Thông tấn xã Việt Nam, Nhân kết thúc Hội nghị lần thứ II giữa Thủ tướng Việt Nam-Campuchia và Lào chương trình Tam giác phát triển-từ ý tưởng đến hiện thực, ngày 26/1/2002.
137. Thông tấn xã Việt Nam, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An thăm hữu nghị chính thức Vương quốc Campuchia, ngày 23/12/2002.
138. Thông tấn xã Việt Nam, Đại sứ quán Việt Nam và đại diện Việt kiều tại Campuchia trao đổi Nghị quyết của Đảng về vấn đề người Việt Nam ở nước ngoài, ngày 19/5/2004.
139. Thông tấn xã Việt Nam, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tiếp đoàn Đại biểu cấp cao Đảng Nhân dân Campuchia, ngày 16/1/2005.
140. Thông tấn xã Việt Nam, Các bác sĩ Việt Nam mổ mắt miễn phí cho nhiều bệnh nhân nghèo Campuchia, ngày 12/7/2005.
141. Thông tấn xã Việt Nam, Đoàn đại biểu Đảng FUNCINPEC thăm Việt Nam, ngày 6/9/2005.
142. Thông tấn xã Việt Nam, Thông tin tư liệu-120 (660), ngày 8/10/2005.
143. Thông tấn xã Việt Nam, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh hội kiến với Quốc vương Nô Rô Đôm Xi Ha Mô Ni, ngày 16/3/2006.
144. Thông tấn xã Việt Nam, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 31/3/2006.
145. Thông tấn xã Việt Nam, Tuyên bố chung cuộc họp cấp cao lần thứ tư giữa Thủ tướng ba nước Campuchia, Lào và Việt Nam về Tam giác Phát triển, ngày 5/12/2006.
146. Thông tấn xã Việt Nam, Thông tin Tư liệu-150 (846) ngày 16/12/2006.
147. Thông tấn xã Việt Nam, Quan hệ hữu nghị hợp tác Campuchia-Việt Nam, Thông tin tư liệu ngày 16/12/2006. 222
148. Thông tấn xã Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Việt Nam luôn coi trọng việc phát triển quan hệ với các nước láng giềng, ngày 20/12/2006.
149. Thông tấn xã Việt Nam, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức cấp nhà nước Vương quốc Campuchia, ngày 2/3/2007.
150. Thông tấn xã Việt Nam, Hợp tác quân y giữa Việt Nam và Campuchia, ngày 29/5/2007.
151. Thông tấn xã Việt Nam, Viện quân y 175 và viện mắt Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức mổ mắt từ thiện tại Campuchia, Tin thế giới ngày 22/6/2007.
152. Thông tấn xã Việt Nam, Campuchia, Việt Nam và Thái Lan cùng hợp tác phát triển du lịch tại vùng biển chung, ngày 26/8/2007.
153. Thông tấn xã Việt Nam, Tài liệu tham khảo đặc biệt số 014, ngày 17/1/2008.
154. Thông tấn xã Việt Nam, theo Tân Hoa Xã ngày 27/2/2008.
155. Thông tấn xã Việt Nam, Tình hình Campuchia, Tài liệu tham khảo đặc biệt ngày 27/6/2008.
156. Thông tấn xã Việt Nam, Campuchia và vai trò tung hứng ngoại giao giữa các nước lớn, Tài liệu Tham khảo đặc biệt ngày 28/7/2008.
157. Thông tấn xã Việt Nam, Hội nghị cấp Bộ trưởng Việt Nam-Lào-Campuchia về phòng chống ma túy, ngày 26/12/2008.
158. Thông tấn xã Việt Nam, Kim ngạch thương mại Việt Nam-Campuchia tăng mạnh-Quốc hội Campuchia phê chuẩn Hiệp định vận tải đường thủy với Việt Nam, ngày 11/5/2010.
159. Thông tấn xã Việt Nam, Khởi công xây dựng Bệnh viện đa khoa Chợ Rẫy Phnom Penh tại Campuchia, ngày 15/5/2010.
160. Thông tấn xã Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển khai trương chi nhánh đầu tiên tại Campuchia, Tin thế giới ngày 17/5/2010.
161. Thông tấn xã Việt Nam,Việt Nam và Campuchia tăng cường hợp tác trong lĩnh vực y tế, Tin thế giới ngày 4/8/2010.
162. Thông tấn xã Việt Nam, Thông tin tư liệu-46 (1523), ngày 24/4/2011.
163. Tin A Văn phòng Bộ Ngoại giao (4/12/2003), “Theo báo Yomiru ngày 2/12/2000”. 223
164. Tổng hợp từ WWF-World Wide Fund for Nature-Ngân hàng phát triển châu Á-ADB.
165. Lâm Ngọc Uyên Trân (2008), Hợp tác du lịch giữa Việt Nam và Campuchia: Thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sĩ Đại học Khoa học XH&NV Tp.Hồ Chí Minh.
166. Phạm Việt Trung, Nguyễn Xuân Kỳ, Đỗ Văn Nhung (1982), Lịch sử Campuchia (từ nguồn gốc đến ngày nay), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
167. Nguyễn Sỹ Tuấn và cộng sự (2006), Quan hệ Việt Nam-Campuchia: Hiện trạng và giải pháp, Đề tài cấp Viện-Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Hà Nội.
168. Nguyễn Sỹ Tuấn (2007), Cộng đồng người Việt ở Campuchia, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 2/2007, tr.45-51.
169. Đặng Quốc Tuấn (5/2007), “Hợp tác giữa Việt Nam và Campuchia về biên giới lãnh thổ”, Hội thảo khoa học quan hệ Việt Nam-Campuchia trong bối cảnh mới: Hợp tác toàn diện cùng phát triển, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á.
170. Nguyễn Sỹ Tuấn (2010), Cơ sở lịch sử, chính trị, xã hội và pháp lý của vùng biên giới đất liền Việt Nam-Campuchia và đề xuất giải pháp ổn định, phát triển vùng biên giới hai nước, Đề tài cấp Nhà nước độc lập.
171. Trần Văn Tùng (2006), Quan hệ kinh tế biên giới Việt Nam-Campuchia, Tạp chí Cộng sản, số 2+3, tr.106-110.
172. Tuyên bố chung Việt Nam-Campuchia tại Phnom Penh ngày 30/3/2005.
173. Văn phòng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam-Văn bản số 1264/VPCP QHQT ngày 27/2/2010 về việc Chính phủ Việt Nam cho Chính phủ Campuchia vay tín dụng xây dựng cầu Long Bình-Chrey Thom phần cầu phía Campuchia.
174. Nguyễn Thành Văn (2006), Tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế của Campuchia từ 1993 đến nay, Luận văn Thạc sĩ Đại học Khoa học XH&NV Hà Nội.
175. Nguyễn Thị Vân (2010), “Thực trạng và triển vọng hợp tác kinh tế Việt Nam Campuchia”,Tạp chí Khoa học xã hội, số 4 (140), tr.43-52.
176. Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Thực trạng việc phân định vùng biển giữa Việt Nam-Campuchia (Mã TL1586), Hà Nội. 224
177. Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (2009), Hội thảo khoa học “Vùng biên giới đất liền Việt Nam-Campuchia: Cơ sở lịch sử, chính trị, xã hội, pháp lý và các giải pháp phát triển bền vững, hài hòa”, Hà Nội.
178. Vụ đầu tư nước ngoài-Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2011), Tình hình đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam tại Campuchia, Hà Nội.
179. Vụ hợp tác quốc tế-Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hợp tác về giáo dục và đào tạo giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam và Bộ Giáo dục, Thanh niên và Thể thao Campuchia giai đoạn 2006-2010, Hà Nội ngày 17/12/2010.
180. Vụ kinh tế đối ngoại-Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo về quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Campuchia, Hà Nội ngày 24/4/2006.
181. Vụ kinh tế đối ngoại-Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo thực trạng hợp tác kinh tế giữa Việt Nam-Campuchia, Hà Nội ngày 6/5/2008.
182. Nôrôđôm Xihanúc (2003), Từ cuộc chiến chống CIA đến người tù của Khơ Me Đỏ, (người dịch: Lê Kim), Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội.
183. Area Handbook Series. (1987). Cambodia: A country study. DA pam 550-50. Washington.
184. Asian Development Bank. (1996). Key Indicators of Developing Asian and Pacific Countries, 26.
185. Asia Yearbook: Asia 1997 Yearbook. Far Eastern Economic Review. Hong Kong.
186. Asia Andrew T.H. Tan., & J.D. Kenneth Boutin. (Eds.). (2001). Non Traditional Security Issues in Southeast Asia. Institute of Defence and Strategic Studies. Singapore.
187. Camaphon. (2003), Cambodia-Vietnam Political Relations 1979-1989. Master Thesis of Royal Academy of Cambodia. Phnom Penh.
188. Chhonn, K. (1999), Cambodia’s future role in ASEAN in Hourn, K.K., & Jeffrey A. Kaplan. Cambodia’s Future in ASEAN: Dynamo or Dynamite?, 233. ASEAN Academic Press. London.
189. Cunha, Derk da. (2000). Southeast Asian Perspectives on Security.  Insititute of Southeast Asian Studies. Singapore. 225
190. Dike & Douglas. (1989). The Cambodia peace process: Summer of 1989. Asian Survey, 29 (9), 842-852.
191. Hort, U. (1999). Cambodia: An Emerging Dynamo for ASEAN. In Hourn, K.K., & Jeffrey A. Kaplan (Ed.), Cambodia’s Future in ASEAN: Dynamo or Dynamite?, 233. ASEAN Academic Press. London.
192. Hourn, K.K. (1998). Cambodia-From Crisis to Promise: Building the future, CICP. Phnom Penh.
193. Hourn, K.K. (2004). Cambodia's ASEAN policy: Cambodia's contribution to Peace and Stability in Region , CICP. Phnom Penh.
194. Kosut, H. (1971). Cambodia and the Vietnam war. New York.
195. Krish, L.M. (1978). Perspectives on the Vietnam-Cambodia border conflict. Asian Survey, 18(5), 448-457.
196. Lau, T.S. (1982). Asian and the Cambodia problem. Asian Survey, 22 (6), 548-561.
197. Lau, T.S. (1986). Cambodia-Vietnamese Relations. Asian Survey, 22(6), 440-451.
198. Melvin E. Richmond, Jr. (1996). United States interests in the Socialist Republic of Vietnam. US Army War College.
199. Pao-Min Chang. (1987). Kampuchea between China and Vietnam. Singapore University Press. Singapore.
200. Protocol for Implementation of the Agreement between The Government of The Socialist Republic of Vietnam and The Royal Government of Cambodia on Road Transportation.
201. Thoxary, H. (1999). Investment in Cambodia. Cambodian Institute for Cooperation and Peace. Phnom Penh.


1 nhận xét: