Thứ Hai, 18 tháng 5, 2015

QUAN HỆ CHÍNH TRỊ - NGOẠI GIAO, AN NINH CỦA ASEAN VỚI TRUNG QUỐC VÀ NHẬT BẢN (1991- 2010)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ: QUAN HỆ CHÍNH TRỊ - NGOẠI GIAO, AN NINH CỦA ASEAN VỚI TRUNG QUỐC VÀ NHẬT BẢN (1991- 2010)


Tác giả Luận án: TRẦN HỮU TRUNG




MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Chiến tranh lạnh kết thúc đã mở ra một không gian rộng lớn cho hòa bình và phát triển đối với mọi quốc gia nói riêng và từng khu vực nói chung. Trong đó, xu thế chủ yếu của nhân loại là đối thoại và hợp tác thay cho đối đầu; Sức mạnh kinh tế là thước đo quan trọng nhất của thực lực quốc gia. Đồng thời dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, của toàn cầu hoá, nhân loại đã xích lại gần nhau trong sự gắn kết mang tính chất tùy thuộc ngày càng lớn. Tuy nhiên, thế giới cũng tiềm ẩn những nhân tố bất ổn khó lường định. Những vấn đề mang tính toàn cầu tiếp tục nảy sinh và biến động phức tạp đang là những thách thức nghiêm trọng đòi hỏi có sự hợp tác của các quốc gia để cùng nhau giải quyết. Tại Đông Nam Á, cùng với những thuận lợi do bối cảnh chung mang lại và sự phát triển năng động về kinh tế, thì cục diện chính trị, an ninh cũng tiềm ẩn nhiều bất trắc xuất phát từ an ninh truyền thống, phi truyền thống và sự cạnh trạnh chiến lược giữa các nước lớn, trong đó nổi lên gay cấn nhất là tranh chấp Biển Đông. Với tầm quan trọng của mình, Đông Nam Á trở thành một không gian địa chiến lược và địa chính trị vào loại nhạy cảm ở châu Á – Thái Bình Dương. Đồng thời, sau Chiến tranh lạnh khu vực này là nơi mà sự đan xen và tương tác quyền lực giữa các nước lớn rất phức tạp, với trạng thái cạnh tranh diễn ra quyết liệt, trong khi sự dung hòa lợi ích và quyền lực giữa họ cũng rất thiếu ổn định.

Trong bối cảnh đó, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Trung Quốc và Nhật Bản đều nhận thức được môi trường hòa bình là nhu cầu và cũng là điều kiện cho sự phát triển của mỗi nước. Hơn nữa, hợp tác kinh tế giữa ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản dù có phát triển nhanh sau Chiến tranh lạnh nhưng sẽ thiếu bền vững nếu không được đặt trên cơ sở của mối quan hệ chính trị, an ninh; bởi thông qua quan hệ chính trị, an ninh mới có thể giải quyết những vấn đề thách thức ngay chính trong từng cặp quan hệ. Để có một không gian chiến lược rộng mở, ngay sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, ASEAN đã kịp thời tạo lập các cơ chế hợp tác đa dạng tại khu vực nhằm lôi kéo các đối tác bên ngoài tham gia, nhất là các nước lớn, bao gồm cả hai quốc gia láng giềng là Trung Quốc và Nhật Bản. Trong khi đó, Trung Quốc và Nhật Bản vừa là hai nước lớn, vừa có mối quan hệ nhiều mặt, sâu rộng và chặt chẽ với ASEAN. Thông qua lợi thế về vị trí địa-kinh tế, địachính trị gần gũi với Đông Nam Á, cả hai nước đều mong muốn có sự ủng hộ của ASEAN để hiện thực hóa chiến lược nước lớn trong vai trò lãnh đạo khu vực, rồi từ đó đi ra thế giới. Chính những lợi ích đan cài trên đã ràng buộc và thúc đẩy quan hệ chính trị, an ninh ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản ngày càng phát triển theo hướng đối tác chiến lược. Đồng thời, đây là ba lực lượng chính trị chủ chốt của khu vực, do đó mối quan hệ này có ảnh hưởng sâu sắc đến quan hệ quốc tế tại khu vực, trong đó về cơ bản đã góp phần to lớn vào sự ổn định, phát triển của Đông Nam Á, tạo ra xung lực thúc và đẩy tiến trình hợp tác vì hòa bình và phát triển của khu vực Đông Á cũng như châu Á – Thái Bình Duơng.

Việt Nam là quốc gia thành viên của ASEAN nhưng đồng thời cũng là đối tác quan trọng của Trung Quốc và Nhật Bản tại khu vực. Việc phát huy vai trò của mình trong ASEAN và tận dụng môi trường ổn định xung quanh có được, cũng như kịp thời đưa ra những quyết sách phù hợp nhằm đối phó trước những thách thức nảy sinh từ mối quan hệ này là sự quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên, dù quan trọng như vậy nhưng hiện tại ở Việt Nam, giới nghiên cứu chỉ chú trọng đến quan hệ trên lĩnh vực kinh tế giữa ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản, còn khía cạnh chính trị, an ninh chưa được đầu tư đúng mức. Việc nghiên cứu, làm rõ những bước phát triển trong quan hệ chính trị, an ninh giữa ASEAN với các cường quốc khu vực, luận giải những nhân tố tác động, đánh giá và kiến giải về những thành công, hạn chế của các mối quan hệ trên cũng góp phần nhận diện rõ ràng và đầy đủ hơn không chỉ tiến trình quan hệ mà cả những kinh nghiệm cũng như tác động của nó đến tình hình khu vực. Với ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn như trên, tôi đã chọn vấn đề “Quan hệ chính trị - ngoại giao, an ninh của ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản (1991- 2010)” làm đề tài luận án Tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử thế giới.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Kế thừa những thành tựu của các giai đoạn trước, bước vào thập niên cuối cùng của thế kỉ XX và thập niên đầu của thế kỉ XXI, thế giới đã chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của các quốc gia châu Á, đặc biệt là khu vực Đông Á. Sau Chiến tranh lạnh, dù có dấu hiệu suy giảm nhưng Nhật Bản vẫn là cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới. Trong lúc đó, Trung Quốc sau thời gian cải cách mở cửa, nhất là từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX đã gặt hái những thành công, phát triển nhanh chóng như “người khổng lồ vươn vai dậy sau một giấc ngủ dài”. ASEAN đến cuối thế kỷ XX đã mở rộng thành phần bao gồm hầu hết các quốc gia tại Đông Nam Á, được coi là tổ chức khu vực thành công nhất sau Liên minh châu Âu (EU). Với vị thế trên, cả ASEAN, Trung Quốc và Nhật Bản đều là những nhân tố chủ chốt có ảnh hưởng quan trọng, thậm chí đang tạo ra sự dịch chuyển trên cả bàn cờ quan hệ khu vực lẫn quốc tế. Vì vậy, việc nghiên cứu từng chủ thể độc lập cũng như mối quan hệ giữa ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản nhằm kiến giải sự vận động hiện nay của Đông Á, trên cơ sở đó có cái nhìn về tương lai châu Á – Thái Bình Dương trong thế kỉ XXI được giới chính trị và học giả quan tâm. Bởi thế, trong khi tiến hành đề tài tác giả luận án đã tiếp cận được những nguồn tài liệu vừa phong phú về hình thức, vừa đa dạng về nội dung, vừa đa chiều về quan điểm của giới nghiên cứu trong và ngoài nước. Để tiện cho việc nhận xét, tác giả luận án trình bày theo thực trạng nghiên cứu trong nước và ngoài nước.

2.1. Tình hình nghiên cứu vấn đề ở trong nước

Trong Chiến tranh lạnh, việc nghiên cứu về Trung Quốc, Nhật Bản và khu vực Đông Nam Á cũng như ASEAN đã được đề cập ở các nghiên cứu nhưng dưới dạng lồng ghép trong các công trình thông sử hoặc là công trình độc lập. Nội dung chủ yếu là mô tả về lịch sử, văn hóa của các thực thể trên. Tình trạng này phần nào được khắc phục khi thế giới, khu vực có những thay đổi theo chiều hướng tích cực từ nửa sau những năm 80 của thế kỉ XX, nhất là sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc. Đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN (1995), trong bối cảnh đất nước đang từng bước hội nhập khu vực và quốc tế, nhu cầu tìm hiểu về các quốc gia láng giềng nói riêng và thế giới nói chung được đặt ra cấp thiết. Việc nghiên cứu ASEAN, Trung Quốc và Nhật Bản do đó cũng được tiến hành ở nhiều cấp độ khác nhau: Từ nghiên cứu riêng từng nước đến mối quan hệ giữa các quốc gia này thể hiện trên hai phương diện song phương và đa phương. Tình hình nghiên cứu vấn đề quan hệ chính trị, an ninh giữa ASEAN với Trung Quốc và với Nhật Bản có thể thấy như sau:

2.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu riêng về từng bên

a. Những công trình nghiên cứu về ASEAN: Liên quan đến những nghiên cứu về ASEAN đầu tiên phải kể đến tuyển tập Đông Nam Á trên đường phát triển (1993) Do Phạm Nguyên Long chủ biên; Là tập hợp tám bài viết của các tác giả khác nhau. Các bài viết đã bước đầu tìm hiểu khái quát những vấn đề cơ bản của ASEAN; Liên quan đến đề tài luận án là các bài: “Đông Nam Á: Triển vọng về sự liên kết và hợp tác khu vực” của Phạm Đức Dương, “Đông Nam Á trước những thách đố của lịch sử” của Hồng Quang, “Điều chỉnh chiến lược của các nước lớn sau Chiến tranh lạnh và tác động của nó tới khu vực Đông Nam Á” của Phạm Nguyên Long. Các công trình trên đã đề cập tình hình khu vực và vị trí của Đông Nam Á trong chính sách của Trung Quốc và Nhật Bản sau Chiến tranh lạnh. Tiếp sau đó là một loạt công trình về ASEAN như Hiệp hội các nước Đông Nam Á (1995) Của Vụ ASEAN – Bộ Ngoại giao, ASEAN và sự hội nhập của Việt Nam do Đào Huy Ngọc chủ biên (1997), Tiến tới một ASEAN hòa bình, ổn định và phát triển bền vững (2001) Của Nguyễn Duy Quý, Liên kết ASEAN trong thập niên đầu thế kỉ XXI (2006) Do Phạm Đức Thành chủ biên, Liên kết ASEAN trong bối cảnh toàn cầu hóa (2002), Những vấn đề chính trị kinh tế Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI (2006) Do Trần Khánh chủ biên, Vai trò của Việt Nam trong ASEAN (2007) của Thông tấn Xã Việt Nam, Việt Nam gia nhập ASEAN từ năm 1995 đến nay thành tựu, vấn đề và triển vọng (2012) Do Nguyễn Thị Quế - Nguyễn Hoàng Giáp đồng chủ biên… Điểm chung của các công trình trên là đã tập trung làm sáng tỏ một cách toàn diện về quá trình hình thành và phát triển của ASEAN qua các chặng đường lịch sử. Các công trình trên ít nhiều đề cập đến chính sách của ASEAN cũng như những nét chính về mối quan hệ song phương giữa ASEAN với các đối tác bên ngoài, trong đó có Trung Quốc và Nhật Bản. Tuy nhiên, đây là công trình nghiên cứu về ASEAN nên mối quan hệ với các đối tác ngoài khu vực chỉ là những nét chấm phá nhằm minh họa thành tựu của ASEAN.

Liên quan đến vấn đề an ninh của ASEAN, công trình Kênh đối thoại không chính thức về an ninh chính trị - Kênh 2 của ASEAN (2010) Của Luận Thùy Dương đã lí giải sự ra đời của Kênh 2 như một sự bổ sung cho kênh 1 khi ASEAN đóng vai trò trong cấu trúc an ninh mới tại khu vực và hóa giải những thách thức đến từ phía của Hiệp hội và các đối tác ngoài khu vực. Mặc dù tiếp cận vấn đề chính trị, an ninh dưới góc độ Kênh 2 nhưng công trình này cũng đã phần nào tái hiện được những nhu cầu an ninh cũng như nỗ lực của ASEAN trước những thách thức và nói lên tính phức tạp của vấn đề này. Tuy nhiên, tác giả chỉ nghiên cứu mang tính chất phác thảo khi đề cập đến quan hệ chính trị, an ninh giữa ASEAN với các đối tác bên ngoài như là để minh họa cho vai trò Kênh 2 trong đời sống chính trị tại khu vực mà thôi.

Công trình của nhóm tác giả do Trần Khánh chủ biên với tiêu đề Hiện thực hóa cộng đồng chính trị - an ninh ASEAN vấn đề và triển vọng (2013) Đã tập trung phân tích sâu mô hình tiến tới Cộng đồng chính trị - an ninh ASEAN, trong đó có đề cập đến những thách thức lẫn cơ hội đến từ các nhân tố khách quan mà rõ ràng nhất là sự cạnh tranh địa chính trị của các nước lớn, bao gồm cả Trung Quốc và Nhật Bản. Tuy nhiên, công trình này chỉ phân tích quá trình thực hiện Kế hoạch hành động của ASEAN về xây dựng Cộng đồng chính trị - an ninh, chứ không đề cập mối quan hệ giữa ASEAN với các đối tác bên ngoài.

Liên quan chặt chẽ đến các vấn đề khu vực ASEAN là những nghiên cứu về Biển Đông và xung đột trên Biển Đông bởi không chỉ các nước Đông Nam Á mà nhiều quốc gia khác bên ngoài khu vực có lợi ích trực tiếp và gián tiếp ở Biển Đông. Nhiều hội thảo cấp quốc gia và quốc tế tổ chức ở Việt Nam đã tập hợp được các học giả hàng đầu trong nước và thế giới về Biển Đông tham dự, đồng thời hình thành mạng lưới nghiên cứu về Biển Đông từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau như khoa học pháp lý, chính trị, quan hệ quốc tế… nhằm tạo diễn đàn để các nhà nghiên cứu chia sẻ quan điểm, thảo luận về những vấn đề gây tranh cãi từ góc độ pháp lý và lợi ích quốc gia. Nội dung của các hội thảo tập trung vào ba cụm vấn đề chính:

(i) Tầm quan trọng của Biển Đông trong khu vực cũng như trên toàn cầu trong bối cảnh của môi trường quốc tế;

(ii) Những diễn biến gần đây ở Biển Đông và những hệ lụy đối với hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực; Và

(iii) Những phương thức và phương tiện để duy trì hòa bình, ổn định và tăng cường hợp tác ở Biển Đông.

Ngoài hội thảo, vấn đề Biển Đông được đề cập trong các công trình nghiên cứu của giới học giả trong nước, chẳng hạn như Trần Khánh “Tranh chấp Biển Đông nhìn từ gốc độ địa chính trị” (2012); Hoàng Khắc Nam “Hệ thống xung đột quốc tế ở BiểnĐông: Thực trạng và đặc điểm” (2012), Đặng Xuân Thanh “Tình huống chiến lược Biển Đông” (2012) …Những công trình trên với cách tiếp cận đa diện đã tái dựng khá cập nhật và đầy đủ vấn Biển Đông đặt trong bối cảnh quan hệ của khu vực cũng như quan hệ ASEAN – Trung Quốc.

b. Những công trình nghiên cứu về Trung Quốc và Nhật Bản

Sự quan tâm của giới nghiên cứu trong nước đối với Trung Quốc và Nhật Bản thể hiện qua số lượng công trình cũng như sự đa dạng về góc độ tiếp cận. Các công trình nghiên cứu tình hình phát triển chung của hai nước trên như Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 60 năm xây dựng và phát triển (2010) Do Viện Nghiên cứu Trung Quốc thực hiện; Nhật Bản trên con đường cải cách (2004) Của Dương Phú Hiệp và Phạm Hồng Thái. Các công trình trên giới thiệu những nét chính về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của những quốc gia này.

Chính sách đối ngoại và vị thế quốc tế của hai quốc gia trên trong bối cảnh quốc tế sau Chiến tranh lạnh là vấn đề được nhiều tác giả nghiên cứu. Nhóm công trình do Lê Văn Mỹ biên soạn và chủ biên như Cộng hòa nhân nhân Trung Hoa ngoại giao trong bối cảnh quốc tế mới (2007), Ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hai mươi năm đầu thế kỉ XXI (2011), Phùng Thị Huệ với Trung Quốc trong khu vực: Vị thế và thách thức (2010), Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ sau Chiến tranh lạnh (2000) Của Ngô Xuân Bình, Nhật Bản và chiến lược đối ngoại đến 2020 (2010) của Nguyễn Phương Hồng. Trong các công trình trên, các tác giả đã tập trung phân tích đường hướng đối ngoại của hai nước này đối với thế giới sau Chiến tranh lạnh, trong đó có đề cập đến những điều chỉnh về chính sách của họ với khu vực Đông Nam Á nói chung và ASEAN nói riêng. Theo các tác giả trên, sau các đối tác lớn như Mỹ, ASEAN với tư cách là một khu vực láng giềng gần gũi, với vị thế ngày càng quan trọng đã trở thành đối tác chiến lược của cả Trung Quốc lẫn Nhật Bản trên con đường xác lập vai trò nước lớn tại khu vực và toàn cầu.

Những công trình trên đã giúp tác giả luận án có được cái nhìn tổng quan về tình hình của ASEAN cũng như Trung Quốc lẫn Nhật Bản, làm cơ sở để tiến hành nghiên cứu quan hệ giữa ba chủ thể này.

2.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu về quan hệ song phương ASEAN – Trung Quốc,ASEAN – Nhật Bản

Quan hệ ASEAN – Trung Quốc, ASEAN – Nhật Bản trở thành đề tài thu hút sự quan tâm của các học giả trong nước. Có thể liệt kê những công trình tiêu biểu sau. Quan hệ Nhật Bản – ASEAN chính sách và tài trợ ODA (1999) Do Ngô Xuân Bình chủ biên, An ninh kinh tế ASEAN và vai trò của Nhật Bản” (2001) Của Viện Kinh tế thế giới và Trung tâm kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, Ngoại giao kinh tế Nhật Bản trong bối cảnh hội nhập Đông Á: Chiến lược cạnh tranh và điều chỉnh chính sách đối với Trung Quốc (2008) Của tác giả Đỗ Thị Ánh; Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Thị Thùy Dung có công trình: Đông Nam Á và Đông Á trong học thuyết Fukuda 2008 (2008), Vũ Dương Huân với Quan hệ đối tác đối thoại ASEAN – Trung Quốc (2007), Trần Khánh với Đông Nam Á trong cạnh tranh chiến lược Trung - Nhật (thập niên đầu thế kỷ XXI) (2009). Đặc biệt, tác giả Nguyễn Thu Mỹ với nhóm công trình: Quan hệ ASEAN – Trung Quốc 15 năm nhìn lại (2006), Hợp tác Trung Quốc – ASEAN trong quá trình xây dựng Cộng đồng ASEAN (2010),Quan hệ ASEAN - Trung Quốc ở thời kì hậu Chiến tranh lạnh: Tiến triển và triển vọng (2010). Trong các công trình này, quan hệ song phương giữa ASEAN với hai đối tác trên được các tác giả nghiên cứu trên tất cả các bình diện từ kinh tế, văn hóa, du lịch đến chính trị; Vấn đề an ninh có được đề cập nhưng chỉ là những phác thảo đơn giản. Điểm mạnh của các công trình trên là đã tái hiện khá rõ nét mối quan hệ ASEAN – Trung, ASEAN – Nhật Bản trên phương diện kinh tế, phần nào là quan hệ chính trị; Phản ánh kịp thời tính thời sự của các sự kiện nhưng rõ ràng lĩnh vực an ninh khá trống vắng. Luận án tiến sử học của Ngô Hồng Điệp bảo vệ năm 2008 với đề tài Quan hệ Nhật Bản – ASEAN (1975 – 2000) Đã nghiên cứu khá toàn diện mối quan hệ giữa hai chủ thể này qua hai giai đoạn trong Chiến tranh lạnh (19751991) Và sau Chiến tranh lạnh (1991- 2000). Vấn đề chính trị, an ninh có đề cập nhưng chỉ là một mảng nhỏ trong mối quan hệ tổng thể giữa Nhật Bản với ASEAN và chỉ dừng tại thời điểm năm 2000. Công trình của tập thể tác giả do Hoàng Thị Minh Hoa chủ biên Nhật Bản với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, Lào và Campuchia (2010) Đã tái hiện mối quan hệ và vai trò của Nhật Bản chủ yếu trên các lĩnh vực kinh tế, trong đó có đề cập đến chính trị, an ninh. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn giữa Nhật Bản với khu vực Đông Dương, do đó không bao quát được quan hệ Nhật Bản – ASEAN. Đáng lưu ý là công trình Quan hệ Trung Quốc – ASEAN – Nhật Bản trong bối cảnh mới và tác động của nó tới Việt Nam (2007) Do Vũ Văn Hà chủ biên đã làm rõ những tác động của bối cảnh mới; Trên cơ sở đó tìm hiểu quan hệ song phương và đa phương của ba thực thể ASEAN – Trung Quốc – Nhật Bản. Tuy nhiên, về chính trị, an ninh, công trình này cũng mang tính khái quát, chỉ đề cập đến những sự kiện trước năm 2007, chỉ tập trung xoay quanh quan hệ an ninh tại Diễn đàn khu vực (ARF) Và xung quanh vấn đề Biển Đông.

2.1.3. Nhóm công trình nghiên cứu quan hệ ASEAN – Trung Quốc, ASEAN – Nhật Bản trong khuôn khổ đa phương

Nghiên cứu về quan hệ giữa ASEAN với các nước Trung Quốc và Nhật Bản trong khuôn khổ đa phương được nhiều học giả trong nước quan tâm. Đáng chú ý là các công trình của tác giả Nguyễn Thu Mỹ như: Hợp tác ASEAN+ 3 quá trình phát triển thành tựu và triển vọng (2008), Một số vấn đề cơ bản về hợp tác ASEAN + 3 (2008), Quan điểm của Nhật Bản về liên kết Đông Á trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế (2007) Do Trần Quang Minh chủ biên, Hợp tác đa phương ASEAN + 3: Vấn đề và triển vọng (2008) Của Hoàng Khắc Nam … Qua những công trình trên cho thấy một quan điểm tương đối thống nhất về nguyên nhân ra đời của ASEAN + 3 là do khủng hoảng tài chính - tiền tệ Đông Á 1997-1998. Trong các công trình trên, vai trò của các nước đối với tiến trình ASEAN + 3 và Hợp tác Đông Á được đánh giá cụ thể, đồng thời cũng đã đề cập đến quá trình hợp tác giữa ASEAN với ba nước Đông Bắc Á cả trên lĩnh vực chính trị, an ninh. Tuy nhiên, theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, thành tựu chính của hợp tác ASEAN + 3 cũng như ASEAN + 1 (với Trung Quốc, Nhật Bản) Vẫn là kinh tế, chính trị. Vấn đề hợp tác an ninh cũng được các tác giả nghiên cứu, nhưng chủ yếu thiên về hợp tác an ninh phi truyền thống mà tiêu điểm là đối phó với chủ nghĩa khủng bố, hải tặc và buôn bán ma túy…

Dù không trực tiếp đề cập đến quan hệ ASEAN với Trung Quốc hay ASEAN với Nhật Bản, nhưng những công trình như Hợp tác Á – Âu và vai trò của Việt Nam (2004) Do Nguyễn Duy Quý chủ biên, Quan hệ Nga – ASEAN trong những thập niên đầu thế kỉ XXI (2008) Do Nguyễn Quang Thuấn chủ biên, Quan hệ Mỹ – Trung hợp tác và cạnh tranh luận giải dưới góc độ cân bằng quyền lực (2011) Do Nguyễn Thái Yên Hương chủ biên…đã phân tích vị thế địa chính trị của ASEAN cũng như sự tương tác quan hệ của các nước lớn ảnh hưởng đến khu vực. Trên cơ sở tham chiếu đó, tác giả có cái nhìn sâu hơn về quan hệ giữa ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản.

2.2. Tình hình nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài

Có thể khẳng định, việc nghiên cứu ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản cũng như mối quan hệ giữa ba chủ thể này đã được giới chính trị và học giả nước ngoài quan tâm sớm, cách tiếp cận đa chiều và có tính hệ thống. Việc tiếp cận nguồn tư liệu của các tác giả nước ngoài của tác giả luận án đến từ những cách thức khác nhau.

Trước hết, trong quá trình tiếp xúc với các công trình nghiên cứu trong nước như được trình bày ở trên, tác giả đã tìm thấy những tư liệu trích dẫn từ các nguồn khác nhau bằng tiếng Anh, tiếng Trung Quốc phản ánh hay nhận định về lĩnh vực mà tác giả quan tâm. Ưu điểm của nguồn tư liệu này là đã được xử lí, nguồn gốc rõ ràng, có tính chính xác cao, trong đó có những nguồn tư liệu gốc rất có giá trị. Vì vậy, những trích dẫn này được tác giả luận án dẫn lại trong công trình nghiên cứu của mình.

Nguồn tài liệu nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đã chuyển dịch sang tiếng Việt; Bao gồm những công trình nghiên cứu được các nhà xuất bản phát hành hoặc là những bài viết đăng tải trên tài liệu tham khảo của Thông tấn Xã Việt Nam.

Trước hết, phải kể đến tuyển tập Quan hệ ASEAN – Nhật Bản tình hình và triển vọng (1989) Là tập hợp từ 10 bài viết của các học giả đến từ Nhật Bản và ASEAN trình bày tại Hội nghị Nhật Bản – ASEAN năm 1987 với chủ đề “Xu hướng toàn cầu và những vấn đề khu vực”. Theo các tác giả, trải qua 20 năm (1967 – 1987), quan hệ Nhật Bản – ASEAN đã có sự phát triển mạnh mẽ nhưng cũng xuất hiện những thách thức trong bối cảnh mới đối với cả hai phía về cả kinh tế lẫn chính trị.

Các học giả đưa ra nhiều khuyến nghị về chính sách, biện pháp trên cơ sở khả năng hiện có và các tiềm năng có thể của Nhật Bản và ASEAN nhằm làm sâu sắc thêm mối quan hệ này. Bàn về quan hệ Nhật Bản – ASEAN là chủ yếu, nhưng tuyển tập này cũng có bài viết của học giả Tatsumi Okabe bình luận về chính sách của Trung Quốc tại khu vực Đông Nam Á. Hai công trình viết về Nhật Bản khác đáng quan tâm là Chiến lược quốc gia của Nhật Bản trong thế kỉ XXI (2004) Của Yasuhiro Nakasone, nguyên Thủ tướng Nhật Bản trong những năm 80 của thế kỉ XX; Ngoại giao Nhật Bản sự lựa chọn của Nhật Bản trong thời đại toàn cầu (2012) Của Iriye Akira, giáo sư Đại học Harvard. Điểm tương đồng của hai công trình trên là nghiên cứu khá hệ thống về tình hình của nước Nhật từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, phân tích yêu cầu về một chiến lược tương thích toàn diện cả về đối nội lẫn đối ngoại mà Nhật Bản cần phải định ra trong bối cảnh mới của tình hình trong nước, quốc tế và phải tỏ rõ vai trò của Nhật Bản một cách tích cực hơn trong quan hệ với châu Á. Theo Iryie Akira, đường hướng ngoại giao của Nhật là không hướng tới trật tự khu vực châu Á trong đó Nhật Bản đóng vai trò chủ đạo mà là nhằm góp phần thúc đẩy phồn vinh, chia sẻ các giá trị nhân quyền, dân chủ, hợp tác nhằm nâng cao mức sống vật chất, tinh thần tại châu Á.

-----------------------LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ GỒM GẦN 240TR VỚI NỘI DUNG NHƯ SAU:

DANH MỤC VIẾT TẮT

ADB Asian Development Bank Ngân hàng Phát triển châu Á
ADMM ASEAN Defence Ministers Meeting Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN
ADMM+ ASEAN Defence Ministers Meeting Plus Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN Mở rộng
AEC ASEAN Economic Community Cộng đồng Kinh tế ASEAN
ARF ASEAN Regional Forum Diễn đàn khu vực ASEAN
APSC ASEAN Political-Security Community Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN
ASCC ASEAN Social and Cultural Community Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN
AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN
AMM ASEAN Ministerial Meeting Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN
AMMTC ASEAN Ministerial Meeting on Transnational Crime Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về tộiphạm xuyên quốc gia
APEC Asia-Pacific Economic Cooperation Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương
APT ASEAN Plus Three Hợp tác ASEAN và Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc
ASEAN Association of Southeast Asian Nations Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEAN- ISIS ASEAN Institute of Strategic and International Studies Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế ASEAN
ASEAN + 1 ASEAN Plus One Hợp tác ASEAN và từng bên ASEANAPOL ASEAN Chiefs of Police Người đứng đầu cơ quan cảnh sát cácnước ASEAN
ASEM Asia-Europe Meeting Hội nghị Á – Âu
CAFTA China – ASEAN Free Trade Area Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN– Trung Quốc
CSCAP Council of Security Cooperationin Asia Pacific Hội đồng Hợp tác An ninh châu Á – Thái Bình Dương
COC Code of Conduct in the South China Sea Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông
CEPT Common Effective Preferential Tariff Hiệp định về thuế quan ưu đãi có hiệulực chung
DOC Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông
EAS East Asia Summit Hội nghị cấp cao Đông Á
EPG Eminient Person Group Nhóm các nhân vật kiệt xuất
EU European Union Liên minh châu Âu
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
IMF International Monetary Fund Qũy Tiền tệ quốc tế
JCM Joint Consultative Meeting Cuộc họp tư vấn chung
JACEP Japan - ASEAN Comprehensive Economic Partnership Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản
JSEPA Japan - Singapore Economic Partnership Agreement Hiệp định đối tác kinh tế Nhật Bản – Sigapore
JMM Joint Ministerial Meeting Hội nghị liên Bộ trưởng
NATO North Atlantic Treaty Organization Khối Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương ODA Official Development Assistance Viện trợ phát triển chính thức
PD Preventive Diplomacy Ngoại giao phòng ngừa
PMC Post Ministerial Conference Hội nghị sau Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao
SEANWFZ Southeast Asian Nuclear Weapon Free Zone Hiệp ước Khu vực Đông Nam Ákhông vũ khí hạt nhân
SOM Senior Officials Meeting Hội nghị các quan chức cấp cao
SOMTC Senior Officials Meeting on Transnational Crime Hội nghị quan chức cấp cao ASEANvề chống tội phạm xuyên quốc gia
TAC Treaty of Amity and Cooperationin Southeast Asia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ởĐông Nam Á
VAP Vientiane Action Programme Chương trình hành động Viên Chăn
WB World Bank Ngân hàng Thế giới
WHO World Health Organization Tổ chức Y tế thế giới
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới
ZOPFAN Zone of Peace Freedom and Neutrality Khu vực Hòa bình, Tự do và Trung lập ở Đông Nam Á

MỤC LỤC

1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
6. Đóng góp của luận án
7. Bố cục của luận án

Chương 1. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ CHÍNH TRỊ NGOẠI GIAO, AN NINH CỦA ASEAN VỚI TRUNG QUỐC VÀ NHẬT BẢN (1991 – 2010)

1.1. Khái quát về ASEAN và quan hệ chính trị, an ninh ASEAN với Trung Quốc và
Nhật Bản trước năm 1991
1.1.1. Khái quát về ASEAN
1.1.2. Quan hệ chính trị, an ninh của ASEAN với Trung Quốc và Nhật Bản trướcnăm 1991
1.1.2.1. Quan hệ chính trị, an ninh ASEAN – Trung Quốc trước năm 1991
1.1.2.2. Quan hệ chính trị, an ninh ASEAN – Nhật Bản trước năm 1991
1.2. Bối cảnh quốc tế và khu vực Đông Nam Á sau Chiến tranh lạnh
1.2.1. Bối cảnh quốc tế
1.2.2. Bối cảnh khu vực
1.3. Nhu cầu hợp tác của ASEAN, Trung Quốc và Nhật Bản
1.3.1. Đối với ASEAN
1.3.2. Nhu cầu của Trung Quốc và Nhật Bản
1.3.2.1. Điểm tương đồng của Trung Quốc và Nhật Bản
1.3.2.2. Nhu cầu của Trung Quốc và Nhật Bản
Chương 2. SỰ TIẾN TRIỂN TRONG QUAN HỆ CỦA ASEAN VỚI TRUNG QUỐC VÀ NHẬT BẢN (1991 – 2010)
2.1. Quan hệ chính trị - ngoại giao và an ninh song phương của ASEAN với Trung Quốc
2.1.1. Quan hệ chính trị - ngoại giao
2.1.2. Quan hệ an ninh (truyền thống và phi truyền thống)
2.1.2.1. Quan hệ an ninh truyền thống
2.1.2.2. Quan hệ an ninh phi truyền thống
2.2. Quan hệ chính trị - ngoại giao và an ninh song phương của ASEAN với Nhật Bản
2.2.1. Quan hệ chính trị - ngoại giao
2.2.2. Quan hệ an ninh (truyền thống và phi truyền thống)
2.2.1. Quan hệ an ninh truyền thống
2.2.2. Quan hệ ninh phi truyền thống
2.3. Quan hệ đa phương về chính trị - ngoại giao, an ninh đa phương của ASEANvới Trung Quốc và Nhật Bản
2.3.1. Trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao
2.3.2. Trên lĩnh vực an ninh

Chương 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ QUAN HỆ CHÍNH TRỊ - NGOẠI GIAO, AN NINH CỦA ASEAN VỚI TRUNG QUỐC VÀ NHẬT BẢN (1991 – 2010)

3.1. Sự tương đồng và khác biệt trong quan hệ chính trị-ngoại giao, an ninh của ASEAN – Trung Quốc và ASEAN – Nhật Bản
3.1.1. Sự tương đồng
3.1.2. Sự khác biệt
3.2. Đặc điểm
3.3. Tác động
3.3.1. Đối với ASEAN
3.3.2. Đối với Trung Quốc
3.3.3. Đối với Nhật Bản
3.3.4. Đối với khu vực
3.3.5. Đối với Việt Nam
3.4. Những thách thức và cơ hội của Trung Quốc và Nhật Bản trong quan hệ với ASEAN
3.4.1. Thách thức
3.4.2. Những cơ hội



 TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Quốc Anh (2012), “Hợp tác Việt Nam – Nhật Bản trong chăm sóc người cao tuổi”, Dân số và phát triển, số 8, tr. 6-10.
2. Đỗ Thị Ánh (2008), “Ngoại giao kinh tế Nhật Bản trong bối cảnh hội nhập Đông Á: Chiến lược cạnh tranh và điều chỉnh chính sách đối với Trung Quốc”, Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 2, tr. 17-26.
3. Irie Akira (2012), Ngoại giao Nhật Bản sự lựa chọn của Nhật Bản trong thời đại toàn cầu, Nxb Tri thức.
4. Ngô Xuân Bình (Cb), (1999), Quan hệ Nhật Bản – ASEAN chính sách và tài trợ ODA, Nxb Khoa học xã hội.
5. Ngô Xuân Bình (2000), Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ sau Chiến tranh lạnh, Nxb Khoa học xã hội.
6. Bộ Ngoại giao (1995), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Nxb Chính trị Quốc gia.
7. Daniel Bursteir, Arne De Keijzer (2008), Trung Quốc con rồng lớn châu Á, Nxb Từ điển Bách khoa.
8. Hồ An Cương (Cb), (2003), Trung Quốc những chiến lược lớn, Nxb Chính trị Quốc gia.
9. Clive J. Christe (2000), Lịch sử Đông Nam Á hiện đại, Nxb Chính trị Quốc gia.
10. Luận Thùy Dương (2010), Kênh đối thoại không chính thức về an ninh và chính trị kênh 2 của ASEAN, Nxb Chính trị Quốc gia.
11. Phạm Đức Dương (2007), Việt Nam Đông Nam Á ngôn ngữ và văn hóa, Nxb Giáo dục.
12. Ngô Hồng Điệp (2008), Quan hệ Nhật Bản – ASEAN (1975 – 2000), (Luận án tiến sĩ Lịch sử), Huế.
13. Bùi Trường Giang (2010), Hướng tới chiến lược FTA của Việt Nam cơ sở lý luận và thực tiễn Đông Á, Nxb Từ điển Bách khoa.
14. Nguyễn Hoàng Giáp (Cb), Nguyễn Thị Quế, Thái Văn Long, Phan Văn Rân (2012), Một số vấn đề chính trị quốc tế trong giai đoạn hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia. 157
15. Vũ Văn Hà (2007), Quan hệ Trung Quốc – ASEAN-Nhật Bản trong bối cảnh mới và tác động của nó đến Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội.
16. Dương Lan Hải (1992), Quan hệ của Nhật Bản với các nước Đông Nam Á sau Chiến tranh thế giới thứ hai 1945-1975, Viện châu Á và Thái Bình Dương, Hà Nội.
17. Dương Lan Hải (1996), “ODA của Nhật Bản với các nước Đông Nam Á, Nghiên cứu Đông Nam Á”, số 3, tr. 33-41.
18. Dương Phú Hiệp-Phạm Hồng Thái, (2004), Nhật Bản trên con đường cải cách, Nxb Khoa học xã hội.
19. Nguyễn Trung Hiếu (2010), “Quan hệ Trung Quốc – Nhật Bản đến 2020”, trong Phạm Bình Minh (Cb), Cục diện thế giới đến năm 2020, tr. 457-486.
20. Hoàng Thị Minh Hoa (Cb), (2010), Nhật Bản với sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam, Lào, Campuchia trong giai đoạn hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia.
21. Nguyễn Phương Hồng (2010), “Nhật Bản và chiến lược đối ngoại đến 2020” trong Phạm Bình Minh (Cb), Cục diện thế giới đến năm 2020, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 535 – 558.
22. Phùng Thị Huệ (2010), “Trung Quốc trong khu vực: Vị thế và thách thức”, Nghiên cứu Trung Quốc, số 2, tr. 3-12.
23. Vũ Dương Huân (2007), “Quan hệ đối tác đối thoại ASEAN – Trung Quốc”, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3, tr. 3-13.
24. Nguyễn Thái Yên Hương (Cb), (2011), Quan hệ Mỹ-Trung hợp tác và cạnh tranh luận giải dưới góc độ cân bằng quyền lực, Nxb Chính trị Quốc gia.
25. Kumao Kaneko (1996), “Lực lượng phòng vệ Nhật Bản và hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc”, Nghiên cứu Nhật Bản, số 2, tr. 26-31.
26. Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Thị Thùy Dung (2008), “Đông Nam Á và Đông Á trong học thuyết Fukuda 2008”, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6, tr. 31-38.
27. Trần Khánh (Cb), (2002), Liên kết ASEAN trong bối cảnh toàn cầu hóa, Nxb Khoa học xã hội.
28. Trần Khánh (chủ biên), (2006), Những vấn đề chính trị kinh tế Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI, Nxb Khoa học xã hội.
29. Trần Khánh (2007), “Những thách thức đối với xây dựng cộng đồng an ninh ASEAN”, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 7, tr. 10-17.
30. Trần Khánh (2008), “Toàn cảnh chính trị Đông Nam Á năm 2007”, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4, tr. 29-36.158
31. Trần Khánh (2008), “Can dự và cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung ở Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI”, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 12, tr 11-19.
32. Trần Khánh (2009), “Đông Nam Á trong cạnh tranh chiến lược Trung-Nhật (thập niên đầu thế kỷ XXI)”, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1, tr. 13-21.
33. Trần Khánh, Lê Thị Minh Trang (2011), “Sự nổi lên của các vấn đề an ninh và tác động của chúng đến môi trường hợp tác và cạnh tranh ở Đông Nam Á trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI”, Nghiên cứu Đông Nam Á,, số 5, tr. 3-30.
34. Trần Khánh (2012), “Tranh chấp Biển Đông nhìn từ gốc độ địa chính trị”, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, tr. 69-84.
35. Trần Khánh, Đỗ Quốc Toản (2013), “Vai trò của ASEAN trong kiến tạo cấu trúc an ninh mới ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương”, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1, tr. 3-9.
36. Trần Khánh (Cb), (2013), Hiện thực hóa cộng đồng chính trị-an ninh ASEAN vấn đề và triển vọng, Nxb Khoa học xã hội.
37. Khủng bố và chống khủng bố qua lăng kính báo chí (2006), Nxb Thông tấn.
38. Nguyễn Văn Lịch (2007), “Từ tuyên bố Bangkok đến Hiến chương ASEAN, một chặng đường lịch sử 40 năm”, Tạp chí phát triển Khoa học & Công nghệ, tập 10 số 9, tr. 26-35.
39. G. M. Lokshin (2010), “Đối tác Trung Quốc-ASEAN: Chìa khóa tiến tới hòa bình và thịnh vượng ở Đông Nam Á” trong Đỗ Tiến Sâm – M. L. Titarenko (Cb), Trung Quốc những năm đầu thế kỉ XXI, Nxb Từ điển Bách khoa, tr. 529 – 563.
40. Nguyễn Thanh Long (2007), “Hợp tác kinh tế-thương mại giữa ASEAN với các bên đối thoại”, Tạp chí Luật học số 9, tr. 28-36.
41. Phạm Nguyên Long (Cb) (1993), Đông Nam Á trên đường phát triển, Nxb Khoa học xã hội.
42. C. P. F. Luhulima (2001), “An ninh kinh tế ASEAN và triển vọng vai trò Nhật Bản”, trong An ninh kinh tế ASEAN và vai trò của Nhật Bản, Nxb Chính trị Quốc gia, tr. 299-255.
43. Kishore Mahbubani (2010), Bán cầu châu Á mới sự chuyển giao tất yếu quyền lực toàn cầu sang phương Đông, Nxb Chính trị Quốc gia.
44. Phạm Sao Mai (2010), “Trung Quốc và chiến lược đối ngoại đến năm 2020” trong Phạm Bình Minh (Cb), Cục diện thế giới đến 2020, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 430 – 456.159
45. Trương Thanh Mẫn (2012), Ngoại giao Trung Quốc, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.
46. Trần Quang Minh (Cb), (2007), Quan điểm của Nhật Bản về liên kết Đông Á trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Khoa học xã hội.
47. Nguyễn Thu Mỹ (2006), “Trung Quốc: Những đóng góp đối với hợp tác Đông Á”, Nghiên cứu Trung Quốc, số 4, tr. 29-42.
48. Nguyễn Thu Mỹ (2007), “Xây dựng cộng đồng Đông Á thành tựu và những vấn đề đặt ra”, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1, tr. 3-14.
49. Nguyễn Thu Mỹ (Cb), (2008), Hợp tác ASEAN+ 3 quá trình phát triển thành tựu và triển vọng, Nxb Chính trị Quốc gia.
50. Nguyễn Thu Mỹ (Cb) (2008), Một số vấn đề cơ bản về hợp tác ASEAN + 3, Nxb Khoa học xã hội.
51. Nguyễn Thu Mỹ (2010), “Hợp tác Trung Quốc – ASEAN trong quá trình xây dựng cộng đồng ASEAN”, Nghiên cứu Trung Quốc, số 7, tr. 25-38.
52. Nguyễn Thu Mỹ (2010), “Quan hệ ASEAN-Trung Quốc ở thời kì hậu Chiến tranh lạnh: Tiến triển và triển vọng” trong Đỗ Tiến Sâm – M. L. Titarenko (Cb), Trung Quốc những năm đầu thế kỉ XXI, Nxb Từ điển Bách khoa, tr. 494 – 528.
53. Nguyễn Thu Mỹ (2011), “Cạnh tranh ảnh hưởng giữa Trung Quốc và Mỹ ở Đông Nam Á và tác động của nó tới quá trình xây dựng cộng đồng ASEAN”, Nghiên cứu lịch sử, số 11 (427), tr. 53 – 65.
54. Lê văn Mỹ (2007), Cộng hòa nhân nhân Trung Hoa ngoại giao trong bối cảnh quốc tế mới, Nxb Khoa học xã hội.
55. Lê Văn Mỹ (2010), “Trung Quốc với trật tự thế giới hiện nay”, Nghiên cứu Trung Quốc số 7, tr. 53-58.
56. Lê Văn Mỹ (Cb), (2011), Ngoại giao cộng hòa nhân dân Trung Hoa hai mươi năm đầu thế kỉ XXI, Nxb Từ điển Bách khoa.
57. Iaxuhicô Nacaxônê (2004), Chiến lược quốc gia của Nhật Bản trong thế kỉ XXI, Nxb Thông tấn.
58. Hoàng Khắc Nam (2004), “Hợp tác Đông Á những hạn chế lịch sử”, trong Đông Á – Đông Nam Á những vấn đề lịch sử và hiện tại, Nxb Thế giới, tr. 247-258.
59. Hoàng Khắc Nam (2008), Hợp tác đa phương ASEAN + 3 vấn đề và triển vọng, Nxb Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh. 160
60. Hoàng Khắc Nam (2012), “Hệ thống xung đột quốc tế ở Biển Đông: Thực trạng và đặc điểm”, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, tr. 85-97.
61. Nhân dân ngày 30 tháng 7 năm 2000.
62. Đào Huy Ngọc (Cb), Nguyễn Phương Bình, Hoàng Tuấn Anh (1997), ASEAN và sự hội nhập của Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia.
63. Nguyễn Thị Ngọc (2008), “Vài nét về quan hệ Nhật Bản – ASEAN”, Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 10, tr. 55-60.
64. Pierre –Antoine Donnet (1991), Nước Nhật mua cả thế giới, Nxb Thông tin lý luận.
65. Trần Anh Phương (2004), “Nhật Bản tìm kiếm vai trò lớn hơn ở Đông Nam Á” trong Đông Á-Đông Nam Á những vấn đề lịch sử và hiện tại, Nxb Thế giới.
66. Nguyễn Thị Quế, Nguyễn Hoàng Giáp (Đồng cb), (2012), Việt Nam gia nhập ASEAN từ năm 1995 đến nay thành tựu, vấn đề và triển vọng, Nxb Chính trị Quốc gia.
67. Đặng Đình Quý (Cb), (2010), Biển Đông hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực, Nxb Tri thức.
68. Nguyễn Duy Quý (2004), Tiến tới một ASEAN hòa bình, ổn định và phát triển bền vững, Nxb Khoa học xã hội.
69. Nguyễn Duy Quý (Cb), (2004), Hợp tác Á-Âu và vai trò của Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia.
70. Đỗ Tiến Sâm – Lê Văn Sang (2002), Trung Quốc gia nhập WTO và tác động của nó đối với Đông Nam Á, Nxb Khoa học xã hội.
71. Đỗ Ngọc Toản (2009), Vai trò người Hoa Đông Nam Á trong sự phát triển của Trung Quốc (1978-2005), Nxb Khoa học xã hội.
72. Trần Trọng Toàn (2001), “Vài nét về vấn đề an ninh kinh tế”, trong An ninh kinh tế ASEAN và vai trò của Nhật Bản, Nxb Chính trị Quốc gia, tr. 32-39.
73. Trần Nam Tiến (Cb), Nguyễn Tuấn Khanh, Trần Phi Tuấn (2008), Lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại (1945-2000), Nxb Giáo dục.
74. Nguyễn Đức Tuyến (2008), “Về sức mạnh mềm của Trung Quốc ở châu Á”, Nghiên cứu Quốc tế, số 1, tr. 68-76.
75. Phạm Đức Thành (2006), Liên kết ASEAN trong thập niên đầu thế kỉ XXI, Nxb Khoa học xã hội. 161
76. Nguyễn Xuân Thắng (2003), “Các xu hướng chủ yếu trong quan hệ hợp tác kinh tế Nhật Bản – châu Á những năm đầu thế kỉ XXI”, Những vấn đề Kinh tế thế giới số 6, tr. 3-9.
77. Thông tấn xã Việt Nam, “Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV Đảng Cộng sản Trung Quốc”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 14/10/1992, tr. 1-6.
78. Thông tấn xã Việt Nam, “Phát biểu của Thủ tướng Hashimoto nhân chuyến thăm các nước ASEAN”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 14/1/1997, tr. 1-4.
79. Thông tấn xã Việt Nam, “Tình hình nội bộ Campuchia”, ngày 2/7/2001, tr. 1-5
80. Thông tấn xã Việt Nam, “Về mối quan hệ Trung Quốc – Đông Nam Á sau Chiến tranh lạnh”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 10/5/2004, tr. 6-12.
81. Thông tấn xã Việt Nam, “Xây dựng quân sự của Philippines và Thái Lan”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 13/11/2004, tr. 18-21.
82. Thông tấn xã Việt Nam, “Các nước châu Á lo ngại sự hồi sinh của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 15 tháng 12/2005, tr. 7-12.
83. Thông tấn xã Việt Nam, “Myanmar và đối sách trước sức ép quốc tế”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 14/1/2006, tr. 8-11.
84. Thông tấn xã Việt Nam, “Ấn Độ với khu vực Nam Á”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 21/1/2006, tr. 8-10.
85. Thông tấn xã Việt Nam, “Nhật Bản: Không có gì phấn khởi trong năm “ất dậu” “ , Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày27/1/2006, tr. 3-10.
86. Thông tấn xã Việt Nam, “Quan hệ Trung – Mỹ dưới tác động của môi trường quốc tế”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 7/2/2006, tr. 1-10
87. Thông tấn xã Việt Nam, “Trung Quốc với an ninh kinh tế”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 22/5/2006, tr. 9-13.
88. Thông tấn xã Việt Nam, “Các nước châu Á lo ngại sự hồi sinh của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 15/12/2006, tr. 7-12.
89. Thông tấn xã Việt Nam, “Hiện trạng và xu thế cơ bản của tình hình an ninh xung quanh Trung Quốc”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 10/9/2006, tr. 1-11.
90. Thông tấn xã Việt Nam, “Vấn đề Nam Hải có thể giải quyết một cách hòa bình không”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 8/3/2007, tr. 1-3.162
91. Thông tấn xã Việt Nam, “Đặc trưng và xu hướng hội nhập kinh tế Đông Á”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 22/4/2007, tr. 5-16.
92. Thông tấn xã Việt Nam, “Xung quanh nỗ lực hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 11/5/2007, tr 6-12.
93. Thông tấn xã Việt Nam, “Philippines trong chiến lược an ninh của Mỹ ở Thái Bình Dương, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 7/7/2007, tr. 3-7.
94. Thông tấn xã Việt Nam, “Ngoại giao Đài Loan từ “thực dụng” đến “hư ảo” “ , Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 22/9/2007, tr. 1-6.
95. Thông tấn xã Việt Nam, “Châu Á: Sự chia cắt nguy hiểm”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 20/10/2007, tr. 6-12.
96. Thông tấn xã Việt Nam, “Báo cáo của Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 17 Đảng Cộng Sản Trung Quốc”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 25/10/2007, tr. 6-12.
97. Thông tấn xã Việt Nam, “Đánh giá hội chợ triển lãm Trung Quốc-ASEAN lần thứ 4”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 20/11/2007, tr. 1-3.
98. Thông tấn xã Việt Nam, “Triển vọng quan hệ Trung – Nhật”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 17/1/2008, tr. 6-9.
99. Thông tấn xã Việt Nam, “Trung Quốc đẩy mạnh xuất khẩu vũ khí”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 25/1/2008, tr. 6-9.
100. Thông tấn xã Việt Nam, “Campuchia: Đằng sau phiên tòa xét xử Khmer Đỏ”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 28/1/2008, tr. 2-6.
101. Thông tấn xã Việt Nam, “Philippines trong cuộc tranh chấp ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông)”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 30/1/2008, tr. 1-5.
102. Thông tấn xã Việt Nam, “Tiềm lực quốc phòng Trung Quốc”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 10/2/2008, tr. 1-9.
103. Thông tấn xã Việt Nam, “Mỹ với những tham vọng an ninh toàn cầu của Trung Quốc”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 9/8/2008, tr. 1-13.
104. Thông tấn xã Việt Nam, “Trung Quốc tăng cường quan hệ với các nước ASEAN”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 1/8/2009, tr. 9-12.
105. Thông tấn xã Việt Nam, “Trung Quốc và tham vọng thống trị đại dương”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 22/9/2008, tr. 1-8.
106. Thông tấn xã Việt Nam, “Trung Quốc – Indonesia: Quan hệ quân sự chưa tìm thấy động lực”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 30/3/2009, tr. 5-9.163
107. Thông tấn xã Việt Nam, “Quan điểm của Trung Quốc về quyền lợi biển”, ngày
29/4/2009, tr. 1-6.
108. Thông tấn xã Việt Nam, “Tình hình buôn bán vũ khí trên thế giới”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 19/5/2009, tr. 10-12.
109. Thông tấn xã Việt Nam, Đông Á: Hợp tác kinh tế trong thời kỳ khủng hoảng”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 22/5/2009, tr. 5-10.
110. Thông tấn xã Việt Nam, “Về khu vực tự do thương mại ASEAN – Trung Quốc”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 1/9/2009, tr. 4-8.
111. Thông tấn xã Việt Nam, “Xu hướng phát triển lực lượng vũ trang các nước Đông Nam Á năm 2020”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 5/1/2010, tr. 8-10.
112. Thông tấn xã Việt Nam, “Sức mạnh mềm của Trung Quốc là mối đe dọa đối với phương Tây”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 21/8/2010, tr. 3-8.
113. Thông tấn xã Việt Nam, “Các cường quốc châu Á tranh giành không gian chiến lược ở Đông Nam Á”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 3/11/2011, tr. 1-3.
114. Thông tấn xã Việt Nam, “Xung quanh vấn đề Biển Đông”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 28/5/2011, tr. 1-6.
115. Thông tấn xã Việt Nam, “Chuyển hướng trong chính sách quốc phòng của Nhật Bản và những hệ lụy”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 5/12/2012, tr. 1-9.
116. Nguyễn Quang Thuấn (Cb), (2007), Quan hệ Nga – ASEAN trong bối cảnh quốc tế mới, Nxb Chính trị quốc gia.
117. Lê Khương Thùy (2008), “Chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc sau sự kiện 11-9”, Nghiên cứu Trung Quốc số 5, tr. 25-39.
118. Lưu Ngọc Trịnh (2004), “Một cách hiểu về suy thoái kinh tế Nhật Bản những năm 1990”, trong Đông Á-Đông Nam Á những vấn đề lịch sử và hiện tại, Nxb Thế giới, tr. 197-216.
119. Phạm Quốc Trụ (2001), “Bối cảnh quốc tế và vấn đề an ninh kinh tế của các quốc gia”, trong An ninh kinh tế ASEAN và vai trò của Nhật Bản, Nxb Chính trị Quốc gia.
120. Trật tự thế giới sau 11-9 (2002), Nxb Thông tấn.
121. Vai trò của Việt Nam trong ASEAN (2007), Nxb Thông tấn.
122. Văn kiện Đại hội Đại biểu Trung Quốc lần thứ XVI ĐCS Trung Quốc (2003), Nxb Chính trị Quốc gia. 164
123. Viện châu Á Thái Bình Dương (1989), Quan hệ ASEAN – Nhật Bản tình hình và triển vọng, Hà Nội.
124. Viện Khoa học xã hội Việt Nam-Viện nghiên cứu Trung Quốc (2010), Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 60 năm xây dựng và phát triển, Nxb Chính trị Quốc gia.
125. Viện nghiên cứu và bảo vệ hòa bình và an ninh Nhật Bản (1994), Về vấn đề an ninh ở khu vực Đông – Nam Á, Nxb Chính trị Quốc gia.
126. Michael Yahuda (2006), Các vấn đề chính trị quốc tế ở châu Á – Thái Bình Dương, Nxb Văn học.
127. Fareed Zakaria (2009), Thế giới hậu Mỹ, Nxb Tri thức.
128. Amitav Acharya (1995), “Making Multilateralism Work: The ARF and security in the Asia-Pacific”, in Michael W. Everett and Mary A. Sommerville (eds.), Multilateral Activities in South East Asia: Pacific Symposium (Washington, D. C. National Defense University Press, 1995), pp. 179-194.
129. Amitav Acharya (2001), Constructing a security community in Southeast Asia, ISIS, Singaopre.
130. Annual report to congress, Military Power of the People’s Republic of China 2007, Office of the Secretary of Defense.
131. Claudia Astarita (2008), “China’s Role in the Evolution of Southeast Asian Regional Organizations”, China perspectives, pp. 78-86.
132. Alice D. Ba (2003), “China and Asean: Renavigating Relations for a 21st century Asia”, Asian Survey, Vol. XLIII, N0.4, July-August, pp. 622-647.
133. Alice D. Ba (2005), “Southeast Asia and China”, in Evelyn Goh (eds), Betwixt and Between: Southeast Asian strategic relations with the US and China, Institute of Defence and Strategic Studies, Singapore, pp. 93–108.
134. Carl Baker (2004), China-Philippines Relations: Cautious Cooperation, Asia Pacific Center for Security Studies, pp. 1-8.
135. Rommel C. Banlaoi (2003), Southeast Asian Perspectives on the Rise of China: Regional Security after 9/11, Parameters: U. S. Army War College, Vol. 33 Issue 2, pp. 98-107.
136. Mark Beeson (2001), “Japan and Southeast Asia: The Lineaments of Quasi – Hegemony”, in Rodan, Garry, Hewison, Kevin and Robison, Richard (eds.) The Political Economy of South-East Asia: An Introduction, 2nd Edition, Melbourne: Oxford University Press, pp. 283-306.165
137. Leszek Buszynski (2012), “The South China Sea: Oil, Maritime Claims, and U. S.-China Strategic Rivalry”, The Washington Quarterly, vol. 35, no. 2, pp. 139-156.
138. Kevin G. Cai (2003), “The ASEAN-China Free Trade Agreement and East Asian Regional Grouping” Contemporary Southeast Asia, vol. 25, no. 3.
139. China's National Defense in 2010, Information Office of the State Council of the People's Republic of China, Mar. 31,2011.
140. Catharin Dalpino and Juo-yu Lin (2003), “China and Southeast Asia: The Difference of a Decade”, Brookings Northeast Asia Survey 2002–03, pp. 77-90.
141. David Dickens (1998), “Lessening the Desire for War: The ASEAN Regional Forum and Making of Asia Pacific Security’, Centre for Strategic Studies, Victoria University of Wellington, New Zealand, pp. 1-18.
142. Ralf Emmers (2002), The Securitization of Transnational Crime in ASEAN, Institute of Defence and Strategic Studies Singapore, No. 39.
143. Lam Peng-Er (2002), Japan-Southeast Asia Relations: Trading Places? The Leading Goose and Ascending Dragon, Comparative Connections: An E journal on East Asian Bilateral Relations (US), April.
144. Alfred Gerstl (2008), “The China Factor in Regional Security Cooperation The ASEAN Regional Forum and the Shanghai Cooperation Organization, Austrian Journal of South-East Asian Studies (ASEAS) December 1, pp. 118-139.
145. Michael Green (2008), “Japan in Asia”, in David Shambaugh & Michael Yahuda (eds), International Relations of Asia (Maryland: Rowman & Littlefield Publishers), pp. 170-191.
146. Mutsumi Hirano (2011), In Search of Visions: Japan’s Foreign Policy since 1989, Paper presented at the Annual Conference of the British International Studies Association (BISA), Manchester Conference Centre, United Kingdom, 27-29 April.
147. Christopher. R Hughes (2005), “Nationalism and multilateralism in Chinese foreign policy: Implications for Southeast Asia”, The Pacific review, 18 (1). pp. 119-135.
148. Kei Koga (2012), “Explaining the Transformation of ASEAN’s Security Functions in East Asia: The Cases of ARF and ASEAN+ 3”, in "Asian Regional Integration review", Vol. 4, pp. 1-27.166
149. Joshua KurlantzicK (2006), “China’s Charm Offensive in Southeast Asia’, Current History, September, pp. 270-276.
150. Raja Muhammad Khan (2012), “Sino-U. S. Rivalry in Southeast Asia”, Turkish policy quaterly, Vol. 11. No. 3, pp. 95-104.
151. Mingjiang Li (2012), Chinese Debates of South China Sea Policy: Implications for Future Developments, RSIS Working Papers, No. 239(Singapore: S. Rajaratnam School of International Studies).
152. Wei-hsieh Li (2010), Issue Specific Explanations of China-ASEAN Relationship: Applying the Realist and Constructivist Assumptions, Published by Proquest.
153. Masayuki Masuda (2005), “Japan’s Leading Role in East Asian Regionalism Toward Building an East Asian Community”, in East Asian Strategic Review 2005.
154. Nishihara Masashi (2003), “Japan's Political and Security Relations with ASEAN”, ASEAN-Japan Cooperation: A Foundation for East Asian Community, (ed. Japan Center for International Exchange), Tokyo: Japan Center for International Exchange, pp. 154-167.
155. Ministry of Foreign Affairs (1992), Diplomatic Bluebook 1992 Japan's Diplomatic Activities.
156. “Plus Three (APT) As a Socializing Environment: China’s Approach to the Institutionalization of APT”, in Asian Regional Integration review, Vol. 4, pp. 46-65.
157. David Fouse and Yoichiro Sato (2006), Enhancing basic governance: Japan's comprehensive counterterrorism assistance to Southeast Asia, Asia-Pacific Center for Security Studies.
158. James J. Przystup (2012), “Japan-China Relations: Another New Start”, Comparative Connections Triannual EJournal on East Asian Bilateral Relations, Januari, pp. 109-118.
159. Report of The 6th Japan-ASEAN Dialogue on “The Challenges Facing Japan and ASEAN in the New Era”, 2007, The Global Forum of Japan (GFJ).
160. Yongwook Ryu (2011), Identity and Security: Identity Distance Theory and Regional Affairs in Northeast and Southeast Asia, Department of Government, Harvard University. 167
161. Philip C. Saunders (2008), “China’s Role in Asia”, in David Shambaugh & Michael Yahuda (eds), International Relations of Asia (Maryland: Rowman & Littlefield Publishers), pp. 127-149.
162. Yoichiro Sato (2007), Southeast Asian receptiveness to Japanese maritime security cooperation, Asia-Pacific Center for Security Studies September.
163. Morimoto Satoshi (1998), “Chinese military power in Asia: A Japanese perspective”, InJonathan D. Pollack, Richard H. Yang (eds), China's Shadow Regional Perspectives on Chinese Foreign Policy and Military Development, Published RAND, pp. 37-49.
164. Robert A. Scalapino (1991), “China’s relations with its neighbors,” Academey of Political Science, Proceeding 1991,38, N0.2, pp. 63-74.
165. Security Outlook of the Asia-Pacific Countries and Its Implications for the Defense Sector, The National Institute for Defense Studies, Japan, 2011.
166. Sueo Sudo (1992), The Fukuda Doctrine and ASEAN: New dimensions in Japanese foreign policy, ISEAS, Singapore.
167. Poon Kim Shee (2002), The Political Economy of China-Myanmar Relations: Strategic and Economic Dimensions, The International Studies Association of Ritsumeikan University: Ritsumeikan Annual Review of International Studies. ISSN 1347-8214. Vol. 1.
168. Takashi Shiraishi (2005), “The Asian Crisis Reconsidered” Discussion Paper.Kyoto, Japan: Center for Southeast Asian Studies, Kyoto University, 2005. RIETI Discussion Paper Series 05-E-014.
169. Tomotaka Shoji (2005), “Southeast Asia-Elections and New Governments”, in East Asian Strategic Review 2005, National Institute for Defense Studies, pp. 129-158.
170. Tomotaka Shoji (2009), “Pursuing a Multi-dimensional Relationship: Rising China and Japan’s Southeast Asia Policy”, in Jun Tsunekawa (eds), The Rise of China: Responses from Southeast Asia and Japan, (The National Institute for Defense Studies: Published), NIDS Joint Research Series No. 4, pp. 157-184.
171. Tomotaka Shoji, (2011), “Japan’s Security Outlook: Security Challenges and the New National Defense Program Guidelines”, In Eiichi Katahara (eds), Asia Pacific Countries' Security Outlook and Its Implications for the Defense Sector (NIDS Joint Research Series No. 6, Tokyo, The National Institute for Defense Studies), pp. 149-161.168
172. Tomotaka Shoji (2012), Vietnam, ASEAN, and the South China Sea: Unity or Diverseness? Originally published in Japanese in Boei Kenkyusyo Kiyo, NIDS Journal of Defense and Security, No. 13 (December 2012), pp 3-21.
173. Chu Shulong (2003), “Globalization and Security: A Chinese View”, Institute of Strategic Studies Tsinghua University Beijing, pp. 17-33.
174. Ian Storey (2013), Japan’s Growing Angst over the South China Sea, Institute of Southeast Asian Studies, Singapore, 8 Apr.
175. Lee Lai To (2001), “China’s Relations with ASEAN: Partners in the 21st Century?”, Pacifica Review (Australia) 13: 1 Feb, pp. 61-71.
176. Takashi Terada (2004), Thorny Progress in the Institutionalization of ASEAN+ 3: Deficient China–Japan Leadership and the ASEAN Divide for Regional Governance, Policy and Governance Working Paper Series No. 49.
177. Sally Trethewie (2013), “Nts Working Paper Series No. Singapore: RSIS Centre for Non-Traditional Security” (NTS) Studies, pp. 1-16.
178. Georgeina Colonel Whelan (2012), Does the ARF Have a Role in ASEAN's Pursuit of Regional Security in the Next Decade? Australian Army.
179. Lai Foon Wong (2007), “China–ASEAN and Japan–ASEAN Relations during the Post-Cold War Era”, Chinese Journal of International Politics, Vol. 1, pp. 373–404.
180. Chheang Vannarith (2009), Cambodia: Between China and Japan, Cambodian Institute for Cooperation and Peace, No. 31.
181. Guo Xinning (2005), Anti-Terrorism, Maritime Security, and ASEAN-China Cooperation: A Chinese Perspective, Institute of Southeast Asian Studies, Singapore.
182. Jing-dong Yuan (2006), China-ASEAN relations: Perspectives, prospects and implications for U. S. Interests, Asia-Pacific.

DOWNLOAD LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ: QUAN HỆ CHÍNH TRỊ - NGOẠI GIAO, AN NINH CỦA ASEAN VỚI TRUNG QUỐC VÀ NHẬT BẢN (1991- 2010)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét