LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG CHỦ DỘNG VÀ TÍCH CỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
MỤC LỤC
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Các công trình nghiên cứu về hội nhập kinh tế quốc tế
1.2. Những nghiên cứu về vai trò của nhà nước trong toàn cầuhoá, hội nhập kinh tế quốc tế
1.3. Các công trình nghiên cứu về vấn đề chủ động, tích cực hộinhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
1.4.
Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu liên quan đến vai trò củaNhànước
Việt Nam trong chủ độngvà tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 2: CHỦ ĐỘNG VÀ TÍCH CỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM – TÍNH TẤT YẾU VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC
2.1. Tính tất yếu của chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốctế ở Việt Nam hiện nay
2.2. Vai trò của Nhà nước trong chủ động và tích cực hội nhậpkinh tế quốc tế - Một số vấn đề lý luận cơ bản
Chương 3: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG CHỦ ĐỘNG VÀ TÍCH CỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ – THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
3.1. Thực trạng vai trò của Nhà nước Việt Nam trong chủ động vàtích cực hội nhập kinh tế quốc tế
3.2.
Một số vấn đề đặt ra hiện nay đối với việc phát huy vai trò của Nhà
nước trong chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
Chương
4: QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT HUY VAI TRÒ
CỦA NHÀ NƯỚC TRONG CHỦ ĐỘNG VÀ TÍCH CỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY
4.1. Quan điểm định hướng phát huy vai trò của Nhà nước ViệtNam trong chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
4.2.
Một số giải pháp chủ yếu phát huy vai trò của Nhà nướctrong việc chủ
động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế ởViệt Nam hiện nay
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
ADB: Ngân hàng Phát triển Châu Á
AFTA: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
APEC: Diễn đàn kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam Á
ASEM: Diễn đàn họp tác Á – Âu
CNTB: Chủ nghĩa tư bản
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
EU: Liên minh Châu Âu
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
IMF: Quĩ Tiền tệ thế giới
LHQ: Liên hợp quốc
ODA: Viện trợ phát triển chính thức
USD: Đơn vị tiền tệ Mỹ (Đô la Mỹ)
WB: Ngân hàng Thế giới
WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới
------------------------------------------------LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC GỒM GẦN 170Tr CÓ NỘI DUNG NHƯ SAU:
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội
nhập quốc tế ngày nay đã trở thành xu thế tất yếu khách quan của tiến
trình phát triển nhân loại, trong đó, hội nhập kinh tế quốc tế là nội
dung cốt lõi, căn bản, cơ sở nền tảng của toàn bộ tiến trình hội nhập.
Quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế, một mặt đem lại cho các quốc gia những
cơ hội tốt cho thúc đẩy kinh tế phát triển, nhưng mặt khác cũng khiến
các quốc gia phải đối mặt với muôn vàn rủi ro, thách thức. Tuy nhiên,
mỗi quốc gia khi tham gia tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế không phải
đều cùng nhận được những cơ hội hay phải gánh chịu những rủi ro, thách
thức ngang nhau. Thực tế cho thấy, hiệu quả tiến trình hội nhập phụ
thuộc rất lớn vào năng lực nhận thức và hành động của mỗi quốc gia. Quốc
gia nào chủ động và tích cực trong hội nhập, có những chính sách hội
nhập đúng đắn, phương thức hội nhập phù hợp…sẽ tận dụng, khai thác được
nhiều hơn những cơ may, vận hội, đồng thời dễ dàng vượt qua những trở
ngại, thách thức, giảm thiểu những tổn thất, gặt hái những thành tựu
phát triển ngay cả trong những điều kiện khó khăn nhất. Ngược lại, những
quốc gia nào còn do dự, lúng túng, không nhanh nhạy nắm bắt thời cơ,
linh hoạt ứng phó trước những biến động của tiến trình hội nhập… sẽ phải
hứng chịu nhiều tổn thất, thiệt hại, thậm chí có thể đẩy nền kinh tế
rơi vào khủng hoảng, suy thoái nặng nề.
Đối
với các nước có nền kinh tế phát triển chưa cao như Việt Nam, hội nhập
kinh tế quốc tế là lựa chọn tốt nhất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước, nâng cao vị thế kinh tế và
năng lực cạnh tranh quốc gia. Để đảm bảo hiệu quả tiến trình hội nhập,
nhanh chóng gặt hái những thành tựu phát triển kinh tế to lớn, việc chủ
động và tích cực trong hội nhập có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Chủ động
và tích cực hội nhập không chỉ giúp chúng ta nắm bắt, tận dụng tối đa
những cơ hội, kết hợp tốt các nguồn lực cho thúc đẩy kinh tế phát triển;
ứng phó hiệu quả hơn trước những tác động, ảnh hưởng bất lợi từ tiến
trình hội nhập; né tránh, hạn chế đến mức thấp nhất những tác động xấu
từ tiến trình hội nhập, mà hơn thế còn có thể tìm kiếm được những cơ hội
trong thách thức, thậm chí có thể “xoay chuyển” những tình huống bất lợi, biến những khó khăn, thách thức thành động lực phát triển.
Để
chủ động và tích cực hội nhập đòi hỏi sự nỗ lực kết hợp, tham gia của
nhiều chủ thể, trong đó nhà nước là chủ thể quan trọng nhất, có vai trò
to lớn, trực tiếp điều hành, chỉ đạo, định hướng, dẫn dắt toàn bộ tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta.
Những
năm qua, Nhà nước Việt Nam đã đề ra nhiều chính sách định hướng đúng
đắn, đồng thời chỉ đạo triển khai nhiều biện pháp thúc đẩy nền kinh tế
hội nhập ngày càng mạnh mẽ vào thể chế kinh tế khu vực và thế giới.
Nhờ
đó chúng ta đã khai thác được nhiều giá trị từ tiến trình hội nhập cho
thúc đẩy kinh tế phát triển, đem lại cho nền kinh tế Việt Nam những bước
khởi sắc tốt đẹp với tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao trong nhiều
năm, năng lực cạnh tranh và vị thế kinh tế của đất nước trên trường quốc
tế không ngừng được cải thiện và nâng cao. Tuy nhiên, thực tế cũng cho
thấy, hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta đến nay vẫn
chưa thực sự như mong đợi. Tốc độ tăng trưởng kinh tế còn thấp, chưa
tương xứng với tiềm năng và lợi thế của đất nước. Nhiều nguồn lực của
nền kinh tế chưa được khai thác, phát huy tốt. Nền kinh tế cũng chưa
tranh thủ được tối đa sự hỗ trợ từ bên ngoài cho việc giải quyết, ứng
phó hiệu quả trước những khó khăn, thách thức và biến động phức tạp của
tiến trình hội nhập.
Một
trong những nguyên nhân căn bản của thực trạng đó là do Nhà nước chưa
thực sự phát huy tốt vai trò của mình trong chủ động và tích cực chỉ
đạo, điều hành tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế; năng lực quản lý,
điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém; hệ
thống pháp luật, bộ máy hành chính Nhà nước chưa đáp ứng tốt nhất những
đòi hỏi của tiến trình hội nhập và yêu cầu phát triển đất nước, v.v…
Vì
vậy, việc nâng cao vai trò của Nhà nước trong chủ động và tích cực hội
nhập kinh tế quốc tế nhằm khai thác được nhiều hơn nữa những lợi ích to
lớn từ hội nhập cho thực hiện thắng lợi những mục tiêu phát triển đất
nước vẫn là nội dung cần chú trọng trong tiến trình hội nhập ở nước ta
thời gian tới.
Hơn
thế, trong bối cảnh hội nhập quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp như
hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước nhiều khó khăn, thách
thức nan giải (ảnh hưởng bất lợi từ cuộc khủng hoảng, suy thoái kinh tế,
mất ổn định chính trị diễn ra ở nhiều quốc gia; đối phó với những âm
mưu chống phá từ các lực lượng thù địch và những toan tính xâm lược,
chèn ép nước ta trên nhiều lĩnh vực ngày càng mạnh mẽ của Trung Quốc;
…), Nhà nước càng cần phải phát huy hơn nữa vai trò của mình trong chủ
động và tích cực hội nhập; chỉ đạo khai thác, kết hợp tối đa nội lực và
ngoại lực nhằm củng cố và tăng cường sức mạnh, tiềm lực kinh tế đất
nước, nâng cao khả năng ứng phó, giải quyết hiệu quả trước những tác
động, ảnh hưởng bất lợi từ tiến trình hội nhập, đảm bảo độc lập tự chủ
về kinh tế, giảm thiểu sự lệ thuộc nặng nề vào các quốc gia lớn, đồng
thời tranh thủ tối đa mọi sự hỗ trợ, ủng hộ của cộng đồng quốc tế cho
thực hiện mục tiêu vừa thúc đẩy phát triển kinh tế, vừa đảm bảo giữ vững
ổn định chính trị, bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia.
Thực
tiễn đã và đang đặt ra yêu cầu cần thiết phải nghiên cứu vấn đề vai trò
của nhà nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế để từ đó rút ra
những bài học cần thiết nâng cao vai trò của Nhà nước Việt Nam trong
việc chủ động và tích cực hội nhập vào thể chế kinh tế toàn cầu nhằm gặt
hái những thành tựu hội nhập kinh tế quốc tế cao nhất cho công cuộc
phát triển đất nước. Đó là lý do tác giả luận án chọn vấn đề “Vai trò của nhà nước trong chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên
cơ sở làm rõ lý luận và thực tiễn về vai trò của Nhà nước Việt Nam
trong chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, luận án đề xuất
quan điểm và một số giải pháp chủ yếu phát huy vai trò của Nhà nước Việt
Nam trong chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
2.2. Nhiêm vụ nghiên cứu
- Làm rõ lý luận về vai trò của Nhà nước Việt Nam trong chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
-
Phân tích thực trạng vai trò của Nhà nước Việt Nam trong việc chủ động
và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời phát hiện những vấn đề
đang đặt ra đối với việc phát huy vai trò đó của Nhà nước hiện nay.
-
Đề xuất quan điểm và một số giải pháp chủ yếu phát huy vai trò của nhà
nước Việt Nam trong chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận
án tập trung nghiên cứu về vai trò của Nhà nước Việt Nam với tư cách là
bộ phận quan trọng của kiến trúc thượng tầng trong chủ động và tích cực
hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận
án nghiên cứu, khảo sát vấn đề vai trò của Nhà nước Việt Nam trong chủ
động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn đất nước mở rộng hội
nhập từ năm 2000 đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Cơ sở lý luận
Luân
án được thực hiện dựa trên cơ sở quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đặc biệt là các quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam về vấn đề hội nhập, vai trò của nhà nước trong bối cảnh hội
nhập nói chung, vai trò của Nhà nước Việt Nam trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế nói riêng, đồng thời kế thừa có chọn lọc kết quả các
công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đã công
bố liên quan tới đề tài.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luân
án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử mác xít, đặc biệt là các phương
pháp lịch sử - lôgic, phân tích - tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát
hoá, đồng thời kết hợp một số phương pháp khác như điều tra, thống kê xã
hội học…để hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra.
5. Đóng góp mới của luận án
- Luận án phân tích, làm rõ sự cần thiết phải chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay.
- Phân tích dưới góc độ triết học vai trò của Nhà nước Việt Nam trong việc chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
-
Đánh giá thực trạng, đồng thời đề xuất quan điểm và một số giải pháp cơ
bản góp phần nâng cao vai trò của Nhà nước trong chủ động và tích cực
hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
-
Những vấn đề mà luận án đề cập, giải quyết góp phần thiết thực vào việc
luận giải và đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của
Nhà nước Việt Nam hiện nay trong chủ động và tích cực hội nhập kinh tế
quốc tế.
-
Luận án sau khi hoàn thiện có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục
vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy về các vấn đề liên quan đến chủ
động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như vai trò của Nhà nước
trong chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 4 chương, 10 tiết.
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Hội
nhập quốc tế nói chung, hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng ngày nay đã
là xu thế tất yếu của nhân loại và trở thành vấn đề quen thuộc không chỉ
trong giới các học giả, các nhà khoa học mà cả trong đời sống xã hội.
Do đó, cũng dễ hiểu vì sao có khá nhiều các công trình, bài viết quan
tâm tìm hiểu, nghiên cứu xoay quanh chủ đề này.
Trước hết, có thể thấy, nhiều học giả đã tập trung nghiên cứu, đưa ra các quan niệm khác nhau về khái niệm hội nhập.
Trong
cuốn Từ điển bách khoa Việt Nam của Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn
từ điển bách khoa, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, năm 2002, khái niệm
hội nhập được giải thích một cách ngắn gọn là sự liên kết các nền kinh
tế với nhau. Các nền kinh tế khác nhau thực hiện sự hội nhập thông qua
hoạt động mậu dịch và hợp tác chính sách và biện pháp kinh tế [69, tr.
384].
Các
tác giả cuốn Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hoá – Vấn
đề và giải pháp, Bộ Ngoại giao, Vụ hợp tác quốc tế đa phương, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2002 cho rằng, có thể tiếp cận về hội nhập theo ba
cách: cách thứ nhất, theo chủ nghĩa liên bang, tức là xem hội nhập là
sản phẩm cuối cùng chứ không phải là một quá trình, với quan tâm chủ yếu
dành cho thể chế, hướng tới sự hình thành một nhà nước liên bang kiểu
Hoa Kỳ và Thụy Sỹ; cách tiếp cận thứ hai, xem hội nhập trước hết thể
hiện ở sự liên kết giữa các quốc gia thông qua phát triển các luồng giao
lưu như thương mại, thư tín, thông tin, du lịch, di trú, đào tạo...
trong một cộng đồng an ninh hợp nhất như Hoa Kỳ, hay cộng đồng an ninh
đa nguyên như Liên minh châu Âu (EU); cách tiếp cận thứ ba, của những
người theo phái tân chức năng, xem hội nhập dưới góc độ là hành vi mở
rộng và làm sâu sắc quan hệ hợp tác giữa các chủ thể với nhau trong việc
hoạch định chính sách [29, tr. 53-54].
Theo tác giả Nguyễn Vũ Tùng trong bài viết “Quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế”
đăng trên Tạp chí Kinh tế và Chính trị thế giới, số 2, năm 2009, hội
nhập chính là quá trình chủ động tham gia ngày càng sâu rộng vào đời
sống mọi mặt (kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội) của quan hệ quốc tế.
Tác giả cũng nhấn mạnh, ở mức độ trừu tượng hơn, hội nhập còn là quá
trình chấp nhận những qui tắc ứng xử mới đối với hành vi quốc gia trong
thời kỳ toàn cầu hoá và hậu chiến tranh lạnh. Hội nhập là một tiến trình
chủ quan, phụ thuộc vào sự lựa chọn của từng nước [122].
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lâm Quỳnh Anh (2012), Những thành tựu trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, tại trang http://www.nciec.gov.vn, [ngày 7/2].
2. Nguyễn Thuý Anh (2004), Xây dựng nền kinh tế độc lập,
tự chủ của nước ta trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế, Luận án tiên
sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
3. Vũ Thành Tự Anh (2006), Toàn cầu hoá và vận hội của Việt Nam
4. Vũ Đình Bách (2010) (chủ biên), Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội (xuất bản lần 2).
5. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá X, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư.
6. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá X, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 5/2/2007, tại trang http://www.cpv.org.vn.
7. Ban Nội chính Trung ương (2013), Một số kết quả thi hành luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tại trang http://noichinh.vn.
8.
Ban Tuyên giáo Trung ương (2012), Tài liệu Nghiên cứu Nghị quyết Hội
nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa
XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
9. Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương (2001), Mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tài liệu nghiên cứu văn kiện Đại hội IX của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
10.
Lương Gia Ban (2002), “Sự thống nhất biện chứng của nền kinh tế độc lập
tự chủ với chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Thươngmại, số
7, tr.2-3
11. Báo điện tử Chính phủ (2013), 25 năm thu hút 211 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, tại trang http://baodientu.chinhphu.vn, [ngày 27/03].
12. Báo điện tử Chính phủ (2013), Nâng tỷ lệ lao động được đào tạo nghề lên 40%, tại trang http://baodientu.chinhphu.vn, [ngày 11/9].
13. Báo điện tử Chính phủ (2014), Đối ngoại sôi động và hiệu quả năm 2013, tại trang http://baodientu.chinhphu.vn, [ngày 1/1].
14. Báo điện tử Dân trí (2014), 45 quốc gia công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường, http://www.dantri.com.vn, [ngày 2/4].153
15. Báo điện tử Đài tiếng nói Việt Nam (2011), 10 năm đột phá về cải cách hành chính, tại trang http://vov.vn, [ngày 5/4]
16. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Cần nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề trong chuyển dịch cơ cấu lao động
17. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Đối ngoại Việt Nam ghi dấu đậm nét với những thành tựu mang tính toàn diện
18. Báo điện tử Hà Nội Mới (2013), Phát triển nguồn nhân lực không thể chỉ dựa vào tiềm năng, tại trang http://hanoimoi.com.vn, [ngày 16/12].
19. Báo điện tử Quân đội nhân dân (2011), Hội nhập kinh tế – cơ hội và thách thức phát triển bền vững, tại trang http://www.qdnd.vn, ngày 25/7/2011.
20.
Báo điện tử Vietnamnet (2013), Viễn thông, Internet và công nghệ thông
tin có nhiều điểm sáng, http://vietnamnet.vn/vn, [ngày 1/7].
21. Báo điện tử Vietnamnet (2013), Những cảnh báo về nhân lực Việt Nam, tại trang http://vietnamnet.vn/vn, [ngày 14/12].
22.
Hoàng Chí Bảo (2001), “Toàn cầu hoá và sự chủ động hội nhập quốc tế của
Việt Nam – mấy vấn đề phương pháp luận nghiên cứu” trong Nguyễn Đức
Bình, Lê Hữu Nghĩa và Trần Xuân Sầm, đồng chủ biên, Toàn cầu hóa –
Phương pháp luận và phương pháp tiếp cận nghiên cứu, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
23. Nguyễn Đức Bình, LêHữuNghĩa và Trần Hữu Tiến (2003), đồng chủ biên,Góp phần nhận thức thế giới đương đại,Nxb Chính trịQuốc gia,HàNội.
24. Trần Văn Bính (2008), Tỉnh táo trước toàn cầu hóa, http://laodong.com.vn, [ngày 27/01].
25. Bộ Chính trị (2001), Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27-11-2001 về Hội nhập kinh tế quốc tế, http://dangcongsan.vn/cpv.
26. Bộ Chính trị (2013), Nghị quyết 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 về Hội nhập quốc tế, http://dangcongsan.vn/cpv.154
27. Bộ Giao thông vận tải (2013), Báo cáo điều chỉnh Chiến lược phát triển GTVT đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, tại trang http://www.mt.gov.vn, [ngày 24/5].
28.
Bộ Ngoại giao (2001), Toàn cầu hoá và Hội nhập kinh tế quốc tế: Chính
sách và giải pháp đối với Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
29.
Bộ Ngoại giao, Vụ hợp tác quốc tế đa phương (2002), Việt Nam hội nhập
kinh tế trong xu thế toàn cầu hoá – Vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội.
30. Bộ Ngoại giao (2013), Các tổ chức quốc tế, http://www.mofahcm.gov.vn, [ngày 14/8].
31. Bộ Tài chính (2014), Lộ trình Atiga đến 2018 – Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam, http://mof.gov.vn, [ngày 14/3].
32. Bộ Thương mại (2003), Việt Nam với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Kỷ yếu Hội thảo.
33. Nguyễn Mạnh Cầm (2013), Bàn về hội nhập quốc tế, Báo Thế giới và Việt Nam, http://www.tgvn.com.vn, [ngày 16/12].
34.
Chu Văn Cấp (2001), Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta
trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội.
35. Chu Văn Cấp (2014), “28 năm hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam – Tiến trình, thành tựu và giải pháp thúc đẩy”, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, Số 14 (24).
36. Chính phủ (2006), Nghị định 78/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006, quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, http://vbpt.vn/tw.
37.
Chính phủ (2006), Nghị quyết số 25/2006/NQ-CP về Chương trình hành động
để thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X và Nghị quyết của Quốc
hội khóa XI, http://www.moj.gov.vn/vbpq.
38.
Chính phủ (2007), Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2007
Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X,
http://vanban.chinhphu.vn.
39.
Chính phủ (2009), Nghị quyết 22/NQ-CP ngày 28 tháng 05 năm 2009 về
Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần
thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X,
http://thuvienphapluat.vn.155
40. Chính phủ (2013), Báo cáo về tình hình kinh tế-xã hội năm 2013, kết quả 3 năm thực hiện kế hoạch 5 năm (2011-2015) và nhiệm vụ 2014 2015, http://baodientu.chinhphu.vn
41. Chính phủ (2014), Nghị quyết số 49/NQ-CP của Chính phủ ngày
10/7/2014
Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ tiếp tục thực hiện Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X,
http://vanban.chinhphu.vn.
42. Nguyễn Trọng Chuẩn (2006), Những vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
43.
Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Tổng quan Báo cáo năng
lực cạnh tranh toàn cầu 2012 – 2013 của Diễn đàn kinh tế Thế giới,
http://vst.vista.gov.vn.
44. Nguyễn Văn Dân (chủ biên) (2001), Những vấn đề của Toàn cầu hoá kinh tế, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
45.
Nguyễn Trí Dĩnh và các cộng sự (2004), “Quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế của nước ta trong thời kỳ đổi mới-thực trạng và giải pháp”, trong
Nguyễn Văn Thường, chủ biên, Một số vấn đề kinh tế – xã hội Việt Nam
thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
46. Nguyễn Tuấn Dũng (2002), (2002), “Chủ quyền quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế hiện nay”,, Tạp chí Triết học, số 2, tr5 – 8.
47. Đảng Cộng sản Việt Nam (1976), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự Thật, Hà Nội.
48. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự Thật, Hà Nội.
49. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
50. Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội.
51. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
52. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
53. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, http://dangcongsan.vn/cpv, ngày 1/6/2006.156
54. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội.
55. Ngô Văn Điểm (2004), Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
56.
Phạm Văn Đức (2007), Toàn cầu hóa trong bối cảnh Châu Á-Thái Bình
Dương: Một số vấn đề triết học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
57. Grzegorz W.Kolodko (2006), Toàn cầu hóa và tương lai của các nước đang chuyển đổi, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
58. Lê Ngọc Hiền (2001), “Những vấn đề toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế được đặt ra ở Việt Nam”, trong Nguyễn Văn Dân, chủ biên, Những vấn đề của toàn cầu hóa kinh tế, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
59. Nguyễn Thị Hiền (2002), Hội nhập kinh tế khu vực của một số nước ASEAN, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
60. VũHiền (2000), (2000), “Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ”,, Tạp chíCộng sản, (18).
61. Vũ Văn Hiền,Đinh Xuân Lý (đồng chủ biên) (2004),Đổi mới ở Việt Nam. Tiến trình, thành tựu và kinh nghiệm,Nxb Chính trịQuốc gia,Hà Nội.
62. Dương Phú Hiệp, Vũ Văn Hà (2001), Toàn cầu hoá kinh tế, Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội.
63. Đỗ Trung Hiếu (2002), (2002), “Vai trò của nhà nước trong thời đại toàn cầu hoá”,, Tạp chí Lý luận chính trị, số 4, tr 32-34.
64. Hoàng Ngọc Hoà (2003), (2003), “Một số vấn đề trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”,, Tạp chí Cộng sản, số 10, tr.27-31.
65.
Hoàng Ngọc Hoà (2007) (chủ biên), Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội.
66. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2004), (2004), “Về khái niệm chủ nghĩa toàn cầu và toàn cầu hoá”,, Thông tin Những vấn đề lý luận, số 8.
67. Quốc Hội (2006), Nghị quyết số 56/2006/QH11, ngày 29 tháng 6 năm 2006 về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006 – 2010, http://vbpl.vn.
68. Quốc Hội (2011), Nghị quyết số10/2011/QH13, ngày 8 tháng 11 năm 2011 về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015, http://vbpl.vn/tw.157
69. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam (2002), Từ điển bách khoa Việt Nam, tập 2, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội.
70.
Lê Thị Hồng (2001), Vai trò định hướng XHCN của nhà nước đối với sự
phát triển nền kinh tế Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
71.
Trần Thị Thu Hường (2011), Vai trò nhà nước đối với việc xây dựng nền
kinh tế Việt Nam độc lập tự chủ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị – Hành chính
Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
72. Đỗ Tuyết Khanh (2006), (2006), “Quyền tự chủ quốc gia trong kinh tế và chuẩn kinh doanh quốc tế”,, Tạp chí Thời đại mới, số 9, tháng 11.
73. Vũ Khoan (2006), (2006), “Nâng cao khả năng cạnh tranh để hội nhập thành công”,, trong Việt Nam 20 năm đổi mới và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Lao động, Hà Nội, tr.236-243.
74.
Vy Thị Hương Lan (2012), Vai trò của nhà nước trong việc thực hiện công
bằng xã hội ở Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế, Luận án tiến sĩ Triết
học, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ ChíMinh, Hà Nội.
75.
Nguyễn Thường Lạng (2007), “Phát triển lĩnh vực kinh tế đối ngoại Việt
Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Kinh tế và phát
triển, số 117.
76.
Nguyễn Thường Lạng (2012): Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để tạo
chuyển biến cơ bản trong giáo dục Việt Nam,
http://tapchicongsan.org.vn, [ngày 13/8].
77. Lei Da (2003) (Viễn Phố dịch), “Toàn cầu hoá kinh tế và chức năng của nhà nước”, Viện Thông tin khoa học xã hội, (1), (2), Hà Nội.
78. Nguyễn Văn Lịch (2005), (2005), “Hội nhập kinh tế quốc tế-Nhận diện và giải pháp đối với Việt Nam”,, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Số 93.
79.
Võ Đại Lược (2007), “Việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ở Việt
Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Trong Kinh tế Việt Nam:
Đổi mới và phát triển, Nxb Thế giới, Hà Nội, tr.529-548.
80. Nguyễn Văn Mạnh (2005), “Nhận thức mới về vai trò,
chức năng của Nhà nước ta trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mở cửa”, trong Nhìn lại quá trình
đổi mới tư duy lý luận của Đảng 1986-2005, Nxb Lý luận chính trị, Hà
Nội.158
81. C.Mác và Ph.Ăngghen (2004), Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
82. Hồ ChíMinh (2011), Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
83.
Phạm Bình Minh (2011), Đường lối đối ngoại của Đại hội XI và những phát
triển quan trọng trong tư duy đối ngoại của Đảng ta,
http://www.nhandan.com.vn, [ngày 19/5].
84. Phạm Bình Minh (2012), Ngoại giao Việt Nam 67 năm: vươn tới những tầm cao mới, http://www.mofahcm.gov.vn/bản tin ngoại vụ số 21, [ngày 14/9].
85. Phạm Bình Minh (2014), Triển khai quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện của Việt Nam, http://www.mofahcm.gov.vn, [ngày 20/3].
86. Nguyễn Văn Nam (2003), (2003), “Toàn cầu hóa và một số tác động đến phát triển kinh tế của Việt Nam”,, Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, số 10, tr.9-15
87.
Nguyễn Văn Nam (2006) (chủ biên), Phát triển kinh tế thị trường ở Việt
Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế,Nxb Chính trị quốc
gia,HàNội.
88. Nguyễn Vân Nam (2007), Toàn cầu hóa và sự tồn vong của nhà nước, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.
89. Trần Viết Ngãi (2013), EVN, thành tựu và thách thức, http://www.nhandan.com.vn, [ngày 16/1].
90. Chính phủ (2007), Nghị định 23/2007/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp,...
91. Nam Nguyễn (2012), Tiêu chí xác định chất lượng của hệ thống pháp luật, http://moj.gov.vn, [ngày 10/8].
92. Osadchaja I (2002), (Lê Mạnh Chiến dịch),
“Quá trình Toàn cầu hoá và nhà nước: cái mới trong việc điều chỉnh kinh
tế ở các nước phát triển”, Viện Thông tin Khoa học xã hội, (12, 13,
14), Hà Nội.
93. Nguyễn Minh Phong (2014), Những điểm nhấn trong 25 năm thu hút FDI vào Việt Nam và triển vọng, http://www.nhandan.com.vn, [ngày 1/2].
94. Vũ Văn Phúc (2005), “Phát huy nội lực, xây dựng nền kinh tế Việt Nam độc lập tự chủ, mở rộng hợp tác quốc tế”, Tạp chí Kinh tế vàDự báo, Số 9.
95. Trần Việt Phương (1999), Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, trong cuốn Toàn cầu hoá – Quan điểm và thực tiễn, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Nxb Thống kê, Hà Nội.159
96.
Phạm Ngọc Quang (2000), “Nhà nước trước yêu cầu xây dựng kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, Tạp chí Thông
tin Lý luận, số 6.
97. Phạm Ngọc Quang (2002), (2002), “Vai trò của nhà nước dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa”,, Tạp chí Triết học, số 9.
98.
Phạm Ngọc Quang (2009), “Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Cộng
sản, số 8.
99.
Lương Xuân Quỳ, Đỗ Đức Bình (2010), (chủ biên), Thể chế kinh tế của nhà
nước trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt
Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
100. Đặng Đình Quý (2012), Bàn thêm về khái niệm “hội nhập quốc tế” của Việt Nam trong giai đoạn mới, http://www.tapchicongsan.org.vn, [ngày 4/12].
101.
Phan Văn Rân, Nguyễn Hoàng Giáp (2010), Chủ quyền quốc gia dân tộc
trong xu thế toàn cầu hoá và vấn đề đặt ra với Việt Nam, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
102. Tạp chí Cộng sản (2007), Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, số 127, http://www.tapchicongsan.org.vn.
103.
Tạp chí Cộng sản (2013), Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam: 25
năm thu hút 211 tỷ USD vốn đầu tư, http://www.tapchicongsan.org.vn,
[ngày 27/3].
104. Tạp chí Cộng sản (2013), Để nguồn vốn FDI đóng góp nhiều hơn cho phát triển kinh tế, http://www.tapchicongsan.org.vn, [ngày 10/10].
105.
Phương Ngọc Thạch (2005), “Vai trò của nhà nước trong phát triển kinh
tế – xã hội của nước ta trong những năm qua”, Tạp chí Phát triển Kinh
tế, Số 5.
106.
Nguyễn Thanh (2007), “Vấn đề chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc
tế trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí
Triết học, Số 8 (195).
107. Nguyễn Chiến Thắng (2007), (2007), “Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam – Thành công và triển vọng”,, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, Số 4.
108.
Nguyễn Xuân Thắng (2007), (chủ biên), Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập
kinh tế quốc tế đối với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt
Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.160
109.
Nguyễn Xuân Thắng (2011), (chủ biên), Độc lập, tự chủ và hội nhập quốc
tế của Việt Nam trong bối cảnh mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
110. Nguyễn Xuân Thắng và các cộng sự (2013), (đồng chủ biên), Văn kiện đại hội XI của Đảng – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
111. Hữu Thọ (2012), (2012), “Phải chăng nguồn nhân lực lãnh đạo quản lý là quan trọng nhất”,, Tạp chí Cộng sản, số 9(839), tr 52-53.
112. Võ Thanh Thu – Nguyễn Đông Phong (2014), Giải pháp hạn chế sự mất cân đối trong thu hút vốn FDI vào Việt Nam
113. Thủ tướng Chính phủ (2001), Chỉ thị số 19/2001/CT-TTg ngày 28 tháng 08 năm 2001.
114. Thủ tướng Chính phủ (2002), Quyết định số 37/2002/QĐ-TTg, ngày 14 tháng 3 năm 2002 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TW
115. Thủ tướng Chính phủ (2003), Quyết định Số 137/2003/QĐ-TTg,
ngày 11 tháng 7 năm 2003, Phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn
nhân lực cho công tác hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2003 – 2010.
116. Thủ tướng Chính phủ (2005), Chỉ thị số 13/2005/CT-TTg ngày 08 tháng 04 năm 2005, về một số giải pháp nhằm tạo chuyển biến mới trong công tác thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
117. Thủ tướng Chính phủ (2007), Chỉ thị 15/2007/CT-TTg, ngày 22 tháng 6 năm 2007 Về một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
118. Thủ tướng Chính phủ (2007), Quyết định số 174/2007/QĐ-TTg, ngày 19/11/2007, Về việc Kiện toàn Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế
119. Thủ tướng Chính phủ (2009), Quyết định số 236/QĐ-TTg, ngày
20/02/2009, về Phê duyệt đề án thúc đẩy đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài.
120.
Thủ tướng Chính phủ (2012), Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 9/1/2012 Về một
số biện pháp triển khai chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế
121. Hoàng Anh Tuấn (2013), Môi trường quốc tế và chiến lược ngoại giao của Việt Nam, http://www.tgvn.com.vn, [ngày 16/12].
122. Nguyễn Vũ Tùng (2009), (2009), “Quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế”,, Tạp chí Kinh tế và Chính trị thế giới, số 2.
123.
Nguyễn Phú Trọng (2006), (chủ biên), Đổi mới và phát triển ở Việt Nam –
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
124. Phạm Quốc Trụ (2003), Nhìn lại quá trình Hội nhập KTQT của Việt Nam những năm qua và triển vọng, http://www.mofahcm.gov.vn.
125.
Phạm Quốc Trụ (2010), “Thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
những năm qua và triển vọng những năm tới”, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế,
số 1.
126.
Đặng Quang Tuấn (2007), “Thương mại quốc tế và phát triển kinh tế Việt
Nam trong 20 nămđổi mới (1986 – 2005)”, Tạp chíNghiên cứu Kinh tế, Số 2.
127. Lương Văn Tự (2002), “Vượt lên những thách thức mới trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới”, Tạp chí Cộng sản, số 9, tr.17 – 19.
128. Lương Văn Tự (2006), (2006), “Chủ động hội nhập kinh tế, những thành tựu quan trọng”, trong Việt Nam 20 năm đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.123 – 130.
129. Đinh Quang Tỵ (2007), Toàn cầu hóa và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam, http://www.tapchicongsan.org.vn, [ngày 15/08].
130. Ủy ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế (2012), Những thành tựu trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, http://www.nciec.gov.vn, [ngày 7/2].
131. Viện Chiến lược và chính sách tài chính – Bộ Tài chính (2014), Làm gì để nông nghiệp là trụ đỡ vững chắc trong nền kinh tế, http://nif.mof.gov.vn, [ngày 7/3].
132.
Viện chiến lược và phát triển Giao thông vận tải, Báo cáo tổng hợp
Chiến lược giao thông vận tải Việt Nam, tại trang
http://www.tdsi.gov.vn, [ngày 10/1].
133. Viện Dân số vàGia đình Việt Nam (2014),Những lợi thế phát triển kinh tế trong thời kỳ cơ cấu dân số “vàng”, http://ipfcs.org.vn, [ngày 25/6].
134. Viện Khoa học xã hội Việt Nam – Viện Kinh tế và Chính trị thế giới (2005), Toàn cầu hóa, chuyển đổi và phát triển tiếp cận đa chiều, Nxb Thế giới, Hà Nội.162
135. Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (1999), Toàn cầu hoá – Quan điểm và thực tiễn – Kinh nghiệm quốc tế, Nxb Thống Kê, Hà Nội.
136. Viện Ngôn ngữ học-Trung tâm Từ điển học (1995), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng.
137. ViÖn Th”ng tin khoa häc (2000), (2000), “Những vấn đề về toàn cầu hoá”,, Tư liệu chuyên đề, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
138.
Viện Triết học-Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2007), Những vấn đề lý
luận và thực tiễn cơ bản về động lực phát triển đất nước đến năm 2020,
Đề tài cấp Bộ, Hà Nội.
139. Phạm Thái Việt (2004), (chủ biên), Toàn cầu hoá: Những xu hướng biến đổi lớn, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội.
140.
Phạm Thái Việt (2008), Vấn đề điều chỉnh chức năng và thể chế của nhà
nước dưới tác động của toàn cầu hóa, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
141. Việt Nam trong thế kỷ XX (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
142. Việt Nam 20 năm đổi mới (2006), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
143. Đinh Quý Xuân (2005), Kinh tế – Xã hội Việt Nam trước thềm hội nhập, Nxb Thống kê, Hà Nội.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét