Thứ Tư, 20 tháng 5, 2015

DẠY HỌC THEO TIẾP CẬN CDIO TRONG ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN KĨ THUẬT TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC: DẠY HỌC THEO TIẾP CẬN CDIO TRONG ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN KĨ THUẬT TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC


NCS: ĐỖ THẾ HƯNG





MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

Thực tiễn đào tạo giáo viên trong Hệ thống Sư phạm kĩ thuật (SPKT) ở nước ta những năm qua còn bộc lộ những hạn chế, đó là: “Chương trình chi tiết của các trường, khoa sư phạm đào tạo giáo viên kĩ thuật (GVKT) Chưa thật sự đổi mới, nặng về lí thuyết, nhẹ về thực hành, không bắt kịp với nhu cầu của thực tiễn phát triển xã hội, nghề nghiệp và hội nhập quốc tế. Phương pháp giảng dạy còn lạc hậu, nặng về kiểu truyền thụ một chiều, chưa có tác dụng rèn nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên (SV). Công tác hỗ trợ các hoạt động học tập, rèn luyện và việc đảm bảo điều kiện phục vụ đào tạo chỉ đạt mức trung bình. Chất lượng sản phẩm đào tạo chưa thực sự làm cho người học tự tin sau khi ra trường”. Những hạn chế đó đã cho thấy, mô hình dạy học (MHDH) Hiện nay chưa thực sự hiệu quả, cần phải tìm kiếm những cách tiếp cận mới để có thể xây dựng được MHDH phù hợp hơn với xu thế phát triển giáo dục đại học (GDĐH) Trong quá trình hội nhập quốc tế. Hiệu quả của MHDH mới phải được thể hiện qua chất lượng “đầu ra” của người học, giúp cho người học có được những năng lực quan trọng của người GVKT trong một nền giáo dục hiện đại.

MHDH dựa vào năng lực đang là xu thế phổ biến để thay thế truyền thống trong giáo dục hiện đại. Tuy nhiên cho đến nay, vẫn chưa có một mô hình tiếp cận năng lực nào cung cấp được một bộ công cụ chi tiết, cụ thể giúp cho việc thiết kế và triển khai đào tạo ngành kĩ thuật đạt được chất lượng đầu ra theo mong đợi như phương pháp tiếp cận “CDIO” (Conceive - Hình thành ý tưởng;

Design - Thiết kế; Implement - Triển khai; Và Operate - Vận hành) - một trong những cách tiếp cận hiệu quả, đã và đang được triển khai vận dụng ở hơn 116 trường đại học trên thế giới. Đào tạo GVKT là một ngành vừa có tính kĩ thuật chuyên môn, vừa có tính kĩ thuật về nghiệp vụ sư phạm (NVSP). Vì thế, áp dụng mô hình “CDIO” sẽ phù hợp và khả thi trong việc nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên trong hệ thống SPKT.

Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo GVKT trình độ đại học” làm luận án của mình.

2. Mục đích nghiên cứu

Đề xuất MHDH dựa vào phương pháp tiếp cận “CDIO” và áp dụng trong đào tạo GVKT trình độ đại học. Qua đó làm gia tăng chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu của nghề nghiệp và xã hội.

3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu: Hoạt động dạy học trong đào tạo giáo viên của hệ thống SPKT và phương pháp tiếp cận “CDIO” trong cải cách giáo dục kĩ thuật.

Đối tượng nghiên cứu: Quan hệ giữa MHDH trong đào tạo GVKT với đặc điểm của “CDIO”. [2]

4. Giả thuyết khoa học

Nếu MHDH trong đào tạo GVKT theo phương pháp tiếp cận “CDIO” đảm bảo những đặc trưng: Có cấu trúc hệ thống các thành tố, có tính tích hợp, có tính mở, hướng vào năng lực đầu ra, hướng vào hành động, thì sẽ hình thành được ở người học hệ thống năng lực chuyên môn, nghề nghiệp, phát triển các kĩ năng, tố chất cá nhân, giao tiếp, hợp tác đáp ứng chuẩn đầu ra (CĐR) Của chương trình, đồng thời làm cho các em hứng thú hơn trong học tập, tăng cường tính chủ động học tập, giúp cải thiện đáng kể kết quả học tập của SV.

5. Nội dung và phạm vi nghiên cứu

5.1. Nội dung nghiên cứu

- Xây dựng cơ sở lí luận về dạy học theo phương pháp tiếp cận “CDIO” trong đào tạo GVKT trình độ đại học;

- Đánh giá thực trạng chất lượng và MHDH ở một số trường, khoa SPKT;

- Đề xuất mô hình lí thuyết dạy học dựa vào phương pháp tiếp cận “CDIO” trong đào tạo GVKT phù hợp với bối cảnh của Việt Nam và hệ thống SPKT trong quá trình hội nhập quốc tế;

- Thực nghiệm triển khai MHDH đã đề xuất trong bài học cụ thể của một học phần thuộc CTĐT GVKT trình độ đại học nhằm khẳng định việc nâng cao hơn kết quả học tập và khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội của mô hình;

- Khảo sát ý kiến chuyên gia về các thực nghiệm và về MHDH đã đề xuất nhằm hoàn thiện mô hình tiếp cận.

5.2. Phạm vi nghiên cứu

Đề xướng CDIO đã đề cập đến 12 tiêu chuẩn phản ánh toàn diện quá trình đào tạo và quản lí chất lượng đào tạo theo định hướng năng lực đầu ra của người kĩ sư. Việc thực hiện đồng bộ và triệt để các tiêu chuẩn đó sẽ bất cập trong điều kiện hạn chế về nguồn lực của nhiều trường đại học ở Việt Nam. Do đó, chúng tôi chỉ tiếp cận một số luận điểm cơ bản của CDIO trong đề xuất MHDH của luận án đảm bảo phù hợp với thực tiễn đào tạo GVKT ở Việt Nam và có thể áp dụng trực tiếp vào hoạt động dạy học trong nhà trường làm gia tăng chất lượng dạy học theo hướng đáp ứng chuẩn NVSP GVKT, đó là: 1) Thiết kế CĐR đào tạo GVKT chi tiết đến cấp độ thực hiện của môn học (cấp độ 4); 2) Thiết kế nội dung dạy học tích hợp để chuyển tải CĐR đã ban hành; 3) Phương pháp dạy học chủ động, trải nghiệm và đánh giá học tập nhất quán với CĐR.

Mặt khác, dạy học theo tiếp cận CDIO thực chất là dạy học theo tiếp cận năng lực. Vì thế, khi thiết kế MHDH trong đào tạo GVKT, chúng tôi sẽ thể hiện các quan điểm, tư tưởng của lí luận dạy học hiện đại, của các MHDH hiện đại và các lí thuyết học tập phù hợp với định hướng phát triển năng lực cho người học.

Việc xác định các bên liên quan và khảo sát thực tiễn được thực hiện giới hạn tại các trường: Đại học SPKT Hưng Yên, Đại học SPKT Tp Hồ Chí Minh,Đại học SPKT Nam Định và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp lân cận. Việc áp dụng MHDH đề xuất được thực hiện trong các môn học thuộc khối kiến thức NVSP trong CTĐT GVKT trình độ đại học. [3]

6. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

6.1. Phương pháp luận

- Tiếp cận hệ thống: Nghiên cứu MHDH trong đào tạo GVKT với quan điểm là một hệ thống dạy học, có cấu trúc gồm các thành tố cơ bản có mối quan hệ biện chứng và thống nhất. Dạy học các môn trong CTĐT GVKT được đặt trong mối quan hệ nền tảng, tiên quyết, trước sau để đảm bảo đáp ứng các chủ đề CĐR của chương trình.

Hệ thống dạy học theo tiếp cận CDIO trong đào tạo GVKT được đặt trong hệ thống GDĐH và trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế.

- Tiếp cận phát t i n năng c: Phát triển năng lực đầu ra đang là xu hướng tất yếu của GDĐH. Dạy học theo tiếp cận CDIO trong đào tạo GVKT phải làm rõ hệ thống năng lực cần hình thành cho SV thông qua CĐR đào tạo GVKT theo yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp. Mặt khác, phải chứng tỏ được việc làm thế nào để giúp SV đạt được những chủ đề CĐR ấy.

- Q n i m tích hợp: Tích hợp là xu thế phát triển giáo dục trong nhiều thập kỉ qua. Quan điểm này cũng được quán triệt trong phát triển CTĐT và tổ chức dạy học theo phương pháp tiếp cận CDIO. Vì thế, MHDH trong đào tạo GVKT cần phải đảm bảo được yêu cầu: Tích hợp các môn học chuyên ngành trong cùng một chủ đề, dự án; Tích hợp các kĩ năng và tố chất cá nhân, nghề nghiệp, kĩ năng giao tiếp, hợp tác trong dạy học các môn để đảm bảo cho người học có khả năng giải quyết những vấn đề phức hợp của thực tiễn giáo dục, dạy học.

- Tiếp cận về hội nhập: Trong tiến trình hội nhập, các xu hướng phát triển MHDH, xu hướng phát triển của lí luận dạy học hiện đại và của các lí thuyết học tập cần được làm rõ để thấy được những ưu việt của phương pháp tiếp cận CDIO và vận dụng phù hợp với điều kiện thực tiễn trong dạy học ở các cơ sở đào tạo GVKT của Việt Nam.

- Tiếp cận th c tiễn: MHDH theo tiếp cận CDIO trong đào tạo GVKT cần phải hướng vào giải quyết được những vấn đề của thực tiễn đào tạo GV trong hệ thống SPKT. Quán triệt quan điểm này trong nghiên cứu, chúng tôi sẽ làm rõ thực trạng đào tạo GV và MHDH trong đào tạo GVKT, đối chiếu với những luận điểm cơ bản của CDIO để thấy được những vấn đề cần giải quyết, từ đó đề xuất được MHDH phù hợp hơn, có thể làm gia tăng chất lượng đào tạo theo hướng đáp ứng nhu cầu của xã hội và nghề nghiệp.

6.2. Phương pháp nghiên cứu

6.2.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Phân tích, so sánh, tổng hợp, hệ thống hoá và khái quát hoá các tài liệu lí luận trong nước và quốc tế về các tiếp cận hiện đại trong xây dựng MHDH; Khái quát những tư tưởng và kĩ thuật cơ bản của phương pháp luận “CDIO” trong dạy học kĩ thuật; Xu hướng đổi mới MHDH trong đào tạo GVKT; Và các tài liệu lí luận, pháp lí liên quan để hình thành cơ sở lí thuyết cho đề tài. Đồng thời nghiên cứu mô hình đào tạo GVKT hiện hành để xây dựng cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.

6.2.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn [4]

6.2.2.1. Phương pháp điều tra

Điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lí, giảng viên,SV của một số trường trong Hệ thống sư phạm kĩ thuật nhằm tìm hiểu thực trạng đào tạo GVKT ở Việt Nam và thiết kể CĐR của CTĐT GVKT.

6.2.2.2. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm th c tiễn

Tổng kết kinh nghiệm đào tạo GVKT trong các trường thuộc Hệ thống SPKT để tạo cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất MHDH trong đào tạo GVKT phù hợp với điều kiện thực tiễn của các nhà trường.

6.2.2.3. Phương pháp nghiên cứ sản phẩm hoạt ộng

Tổng kết, nghiên cứu kết quả học tập của SV trong CTĐT GVKT hiện hành góp phần làm rõ thực trạng vấn đề nghiên cứu, đồng thời đánh giá kết quả học tập môn học trong MHDH mới đề xuất để đánh giá hiệu quả của mô hình.

6.2.2.4. Phương pháp chuyên gia

Sử dụng phương pháp chuyên gia dưới hai hình thức (tổ chức hội thảo chuyên đề; Phiếu hỏi và/hoặc phỏng vấn trực tiếp) Để lấy ý kiến của các nhà khoa học, các giảng viên đại học, các nhà quản lí giáo dục về các các thành tố cấu trúc của mô hình dạy học, nhằm đánh giá sự tường minh của lí luận và tính khả thi của MHDH dựa theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo GVKT.

6.2.2.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tổ chức thực nghiệm mô hình lí thuyết dạy học dựa vào tiếp cận “CDIO” trong một bài học cụ thể của một học phần thuộc CTĐT GVKT.

6.2.3. Nhóm các phương pháp hỗ trợ

Thu thập và xử lí số liệu bằng phương pháp thống kê toán học, phần mềm SPSS,MS. Excel nhằm đảm bảo cho kết quả nghiên cứu có tính chính xác, đủ độ tin cậy.

7. Những luận điểm bảo vệ

- Dạy học theo tiếp cận CDIO trong đào tạo GVKT cần thiết phải dựa trên một mô hình lí thuyết phản ánh cấu trúc và chức năng của một hệ thống dạy học, bao gồm các thành tố cơ bản: 1) Triết lí dạy học trong đào tạo GVKT; 2) Xác lập và biểu đạt mục tiêu dạy học; 3) Nguyên tắc dạy học; 4) Nội dung và tổ chức, cấu trúc của nội dung học vấn; 5) Phương pháp, chiến lược và kĩ thuật dạy học; 6) Học liệu, phương tiện dạy học; 7) Quan điểm và kĩ thuật đánh giá kết quả dạy học.

Mô hình đó có tác dụng định hướng cho việc thiết kế và thực thi một CTĐT tích hợp (cấp độ vĩ mô), và cho thiết kế, tổ chức dạy học môn học, bài học cụ thể (cấp độ vi mô) Theo định hướng năng lực đầu ra trong đào tạo GVKT.

- Việc vận dụng MHDH theo tiếp cận CDIO trong đào tạo GVKT sẽ làm gia tăng chất lượng dạy học theo hướng đáp ứng chuẩn NVSP GVKT (năng lực GVKT).

8. Đóng góp mới của luận án

- Hệ thống hóa được các MHDH theo tiếp cận đa chiều trong lí luận dạy học đại học hiện đại.

- Làm rõ việc áp dụng phương pháp tiếp cận CDIO dưới góc độ lí luận dạy học đại học [5]

- Làm sáng tỏ thực trạng dạy học và chất lượng dạy học trong đào tạo GVKT ở các trường, khoa SPKT.

- Xây dựng được hệ thống CĐR đào tạo GVKT trình độ đại học theo tiếp cận CDIO đáp ứng chuẩn nghề nghiệp trong bối cảnh của Việt Nam.

- Đề xuất được MHDH theo tiếp cận CDIO trong đào tạo GVKT, phản ánh lí luận dạy học hiện đại, là cơ sở lí thuyết cho áp dụng trong thực tiễn theo hướng đáp ứng chuẩn năng lực đầu ra GVKT.

- Vận dụng MHDH đã đề xuất thiết kế được chương trình môn học tích hợp (môn Phương pháp và kĩ năng dạy học trong giáo dục nghề nghiệp) Nhằm chuyển tải CĐR của chương trình, và thiết kế được bài học thực nghiệm trong môn học tích hợp đó nhằm khẳng định sự gia tăng kết quả học tập và hình thành năng lực cho người học theo hướng đáp ứng CĐR.

9. Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận án có cấu trúc gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo GVKT

Chương 2: MHDH theo tiếp cận “CDIO” và áp dụng trong đào tạo GVKT

Chương 3: Thực nghiệm khoa học

CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC THEO TIẾP CẬN “CDIO” TRONG ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN KĨ THUẬT

1.1. Tương quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Những nghiên cứu về MHDH trong GDĐH

MHDH phản ánh quan điểm, tư tưởng, cách tiếp cận để xây dựng hệ thống dạy học trong nhà trường phục vụ nhu cầu của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử. Trên bình diện đó có thể nhận thấy, nền GDĐH thế giới từ khi mới hình thành (GDĐH phương Đông cách đây 3000 năm; GDĐH phương Tây từ cuối thời kì Trung cổ - Thế kỉ XI) Đến nay đã có sự chuyển biến toàn diện từ GD tinh hoa sang GD ại chúng, từ GD t yền thống sang GD hiện ại (th y thế), từ GD theo mục tiê (nội d ng) Sang GD dựa vào (năng c). MHDH truyền thống ở phương Đông “phản ánh và t yền bá các hệ tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Ấn ộ giáo và các giá t ị văn hoá-xã hội t ong ó chủ yếu là dạy hệ thống các triết lí, quan niệm, tín điều, văn chương, một số kĩ năng tính toán và rất ít tính duy lí, phân tích...”, với những đại diện tiêu biểu đầu tiên như: Khổng tử (551-479 TCN), Mạnh tử (372-289 TCN), Tuân tử (313-238 TCN). MHDH truyền thống ở phương Tây đặc trưng phụ th ộc vào các tác phẩm cội nguồn của các tác giả như Homer (750-650 TCN), Sophocles (496-406 TCN), Plato (427-347 TCN), Josephus (100-37 TCN), Dante (1265-1321), Shakespeare (1564- 1616) Và sự hội nhập của một thế giới quan Kitô giáo vào tất cả các đối tượng.

MHDH truyền thống ở Việt Nam đã tồn tại cho đến tận ngày nay. Tuy nhiên, nhiều nhà GD đã lên tiếng phản biện những bất cập của nó, đồng thời tích cực đề xuất hướng cải cách GDĐH theo mô hình hiện đại. Những quan điểm, tư tưởng GD [6] tiến bộ và sự du nhập của những phương pháp, kĩ thuật dạy học hiện đại đã được nghiên cứu vận dụng và phát triển mạnh mẽ từ thập niên 90 thế kỉ XX trở lại đây.

MHDH hiện đại phản ánh đặc trưng của một nền GD tiên tiến (nền GD thay thế truyền thống), gắn liền với những tư tưởng GD tiến bộ, những cuộc cải cách GD diễn ra mạnh mẽ ở phương Đông và phương Tây từ cuối thế kỉ XIX đến nay, có nguồn gốc từ xa trở lại, được phản ánh trong những tác phẩm của John Locke và Jean-Jacques Rousseau. Cả hai lần lượt được gọi là tiền thân của trào lưu GD tiến bộ sau này. Phong trào sư phạm tiến bộ bắt đầu từ cuối thế kỉ XIX, với những đại diện tiêu biểu như Johann Heinrich Pestalozzi (1859), Johann Friedrich Herbart (1883), John Dewey (1897,1900,1902,1916,1938).

Sự phát triển mạnh mẽ của những thành tựu sinh lí học, tâm lí học nhận thức, tâm lí học phát triển trong thế kỉ XX, với sự ra đời của các lí thuyết học tập:

Thuyết Hành vi (Pavlov - 1928, Thorndike - 1931, Watson – 1968, Skinner - 1976,1978); Thuyết Nhận thức (Bandura - 1976,1979, Piaget - 1976); Thuyết Kiến tạo (Jeans Piaget, Watzlawick, Hans Aebli, Maria Motessori, Lew S. Wygotzky);

Thuyết Đa trí tuệ của Howard Gardner…, và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, truyền thông trong những thập niên cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, đã tác động đến MHDH hiện đại, tạo nên sự thể hiện đa dạng dưới nhiều hình thức: Dạy học dựa vào năng lực (CBE); Dạy học dựa vào CĐR (OBE); Dạy học trong môi trường học tập ảo (Virtual Learning Environment - VLE).

MHDH hiện đại đã được các nhà lí luận Việt Nam chỉ ra rằng, trước hết nó thể hiện quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm thay vì lấy người dạy làm trung tâm theo truyền thống (Trần Bá Hoành - 1994,1995,2003; Nguyễn Kỳ - 1995,1996). Dạy học hiện đại cũng đề cao định hướng hành động thay vì sự tiếp thu thụ động của người học (Nguyễn Bá Kim - 1998). Ngoài ra, dạy học hiện đại còn hướng vào rèn luyện năng lực tự học, năng lực sáng tạo và những kĩ năng xã hội cần thiết (giao tiếp, hợp tác, làm việc nhóm) Cho SV (Nguyễn Cảnh Toàn - 1999,2001; Đặng Thành Hưng - 1999; Phan Trọng Luận -2002; Trần Thị Tuyết Oanh – 2006;..).

Những người ủng hộ dạy học hiện đại còn chú trọng hướng tới MHDH định hướng phát triển năng lực hay định hướng kết quả đầu ra (Nguyễn Minh Đường – 2005; Nguyễn Đức Trí – 2005; Đặng Bá Lãm – 2006; …), và cho rằng phù hợp với xu thế đổi mới GDĐH ở Việt Nam, đang dần thay thế mô hình truyền thống.

Nhìn chung, các MHDH đã được nghiên cứu rất đa dạng, phong phú, nhưng việc vận dụng cụ thể trong mỗi cơ sở GDĐH vẫn chưa được định hình rõ nét ở Việt Nam, hoặc vận dụng còn thiếu thống nhất, chưa đồng bộ trong các thành tố của một hệ thống dạy học.

1.1.2. Nghiên cứu về phương pháp tiếp cận “CDIO” trong dạy học đại học

Vào năm 2000, Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) Cùng với ba trường đại học khác ở Thụy Điển đã khởi xướng sáng kiến “CDIO”, là một khuôn khổ hợp tác quốc tế về cải cách giáo dục kĩ thuật. Sáng kiến “CDIO” ban đầu là một bản quy ước chung của 4 trường, sau đó đã được nhóm tác giả Edward F. Crawley, Johan Malmqvist, Sören östlund & Doris. Brodeur (2007) Phát triển thành một phương pháp tiếp cận trong cải cách giáo dục kĩ thuật thông qua cuốn sách “Rethinking Enginee ing Ed c tion The “CDIO” Approach”. Cũng từ đó, [7] “CDIO” đã trở thành một hiệp hội danh giá của thế giới với sự mở rộng nhanh chóng, vượt ra khỏi Mỹ và châu Âu. Đến nay, số lượng chương trình học, cộng tác tham gia lên tới hơn 116 trường đại học trên thế giới. Các trường đại học trên thế giới đã nghiên cứu áp dụng phương pháp tiếp cận “CDIO” trong việc cải cách căn bản, toàn diện công tác đào tạo của các ngành nghề chủ yếu thuộc lĩnh vực kĩ thuật.

Tại Việt Nam, chủ chương áp dụng phương pháp tiếp cận “CDIO” đã được bắt đầu từ mùa Hè năm 2008, với sự khởi xướng của 2 trường đại học lớn: Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, hàng loạt các trường đã triển khai áp dụng phương pháp tiếp cận CDIO ở các mức độ khác nhau. Mức độ phổ biến, bước đầu mà nhiều trường áp dụng đó là xây dựng CĐR và phát triển CTĐT theo tiếp cận “CDIO” (Đại học Ngoại ngữ - Tin học Thành phố Hồ Chí Minh (2012) Áp dụng cho 6 ngành, trong đó có 5 ngành ngoài kĩ thuật; Đại học Thái Nguyên (2012) Áp dụng cho tất cả các ngành đào tạo; Đại học SPKT Thành phố Hồ Chí Minh (2013) Áp dụng cho tất cả các ngành đào tạo; Học viện Công nghệ bưu chính Viễn thông (2013) Áp dụng cho ngành Công nghệ Đa phương tiện). Một số trường khác cũng đang trong giai đoạn tìm hiểu và bắt đầu triển khai áp dụng phương pháp tiếp cận “CDIO” trong đào tạo các ngành của nhà trường (Đại học Công nghệ Thông tin (2013); Đại học Kinh tế - Luật (2013);

Đại học Thủ dầu 1 (2014); Đại học An Giang (2014); Đại học Đà Nẵng (2014) …). Chỉ có 2 trường đến nay đã trở thành thành viên của Hiệp hội CDIO thế giới: Đại học Quốc gia Thành phồ Hồ Chí Minh và Đại học Duy Tân.

Thông qua nghiên cứu tổng quan đã cho thấy, việc định hình MHDH trong GDĐH hiện nay là cần thiết; Việc triển khai phương pháp tiếp cận CDIO trong GDĐH trên thế giới và ở Việt Nam ngày càng được mở rộng, và thể hiện rất đa dạng. Tuy nhiên, việc xác định được MHDH theo tiếp cận “CDIO” lại chưa được đề cập cụ thể cả trong nghiên cứu lí luận và thực tiễn đào tạo đại học nói chung và đào tạo GVKT nói riêng. Điều này sẽ là cần thiết để làm rõ hơn dưới góc độ lí luận dạy học cho một mô hình cải cách GDĐH đã và đang phổ biến hiện nay.

1.2. Cơ sở lí luận của dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo GVKT

1.2.1. Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1.1. Giáo viên kĩ th ật GVKT là người được đào tạo đảm bảo đủ trình độ nghiệp vụ và chuyên môn nghề nghiệp để giảng dạy các môn kĩ thuật (có thể là lí thuyết và/hoặc thực hành, thí nghiệm ở các môn lí thuyết cơ sở, các môn lí thuyết chuyên môn hoặc chỉ dạy thực hành) ở nhà trường GDNN, trường đại học, hoặc phổ thông (dạy môn công nghệ).

1.2.1.2. MHDH t ong ào tạo GVKT

MHDH trong đào tạo GVKT là mô hình lí thuyết, phản ánh cấu trúc và chức năng của một hệ thống dạy học trong các nhà trường SPKT, bao gồm tập hợp các thành tố/phần tử chủ yếu cần thiết của hệ thống đó: Triết lí dạy học trong đào tạo GVKT; Xác lập và biểu đạt mục tiêu dạy học; Nguyên tắc dạy học; Nội dung và tổ chức cấu trúc của nội dung học vấn; Phương pháp, chiến lược và kĩ thuật dạy học; Học liệu và phương tiện dạy học; Quan điểm và kĩ thuật đánh giá kết quả dạy học. Các thành tố trong cấu trúc MHDH có mối quan hệ tổ chức và liên hệ chức năng thống nhất. [8]

1.2.2. Một số mô hình dạy học

1.2.2.1. MHDH theo tiếp cận các í th yết học tập

Dạy học là một con đường phát triển nhân cách cho người học theo mục tiêu xác định. Quá trình dạy học diễn ra thông qua sự tác động qua lại của các chủ thể: Thầy – Trò, trên cơ sở tổ chức các hoạt động nhận thức của người học trong môi trường sư phạm ở trong và ngoài nhà trường. Lí luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng, các thành tố cơ bản của một MHDH gồm: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, học liệu, kết quả… luôn luôn vận động, phát triển trong quá trình dạy học. Điều đó phụ thuộc vào sự phát triển của nền tảng lí thuyết học tập mà nhân loại đã tạo ra. Vì thế, việc tìm kiếm sự khác biệt của các MHDH dựa vào các lí thuyết học tập là hướng tiếp cận đúng đắn và cần thiết để xác lập được mô hình phù hợp trong khoa học sư phạm nhà trường.

Các lí thuyết học tập đã gợi ra mục tiêu, nội dung, môi trường học tập và đặc biệt là hướng vào làm rõ bản chất của việc tiếp thu kiến thức, cũng như mô hình kĩ thuật dạy học để làm thay đổi người học theo mục tiêu xác định. Nếu như các lí thuyết Hành vi, Nhận thức, Kiến tạo làm nổi bật chân lí: Việc tiếp thu kiến thức diễn ra bên trong một con người, thì thuyết học tập Kết nối lại chú ý đến việc tiếp thu kiến thức diễn ra bên ngoài con người (tức là kiến thức được lưu trữ và xử lí bằng công nghệ). Không thể và sẽ lệch hướng nếu đi sâu tìm hiểu tất cả các lí thuyết học tập từ trước tới nay, vì mỗi lí thuyết phản ánh triết lí riêng và hướng tới đối tượng riêng. Tuy nhiên, trong GDĐH, thì những lí thuyết hướng vào hình thành hành vi, nhận thức, khả năng kiến tạo tri thức, tính chủ động, sự thích ứng công việc, môi trường sáng tạo, phát huy kinh nghiệm và học tập suốt đời cho người học sẽ là hữu ích để thiết kế các MHDH phù hợp với người lớn, tạo thuận lợi cho phát triển bản thân đáp ứng yêu cầu của nghề nghiệp và xã hội.

Những quan điểm tư tưởng về dạy học tích hợp, chủ động, trải nghiệm cùng với triết lí kiến tạo được thể hiện trong phương pháp tiếp cận “CDIO” hoàn toàn phù hợp với cơ sở lí thuyết học tập đã trình bày ở trên và được chúng tôi tiếp cận trong xác lập MHDH áp dụng vào đào tạo GVKT.

1.2.2.2. MHDH t yền thống

Dạy học truyền thống được hiểu là lối dạy học cổ truyền, đã trở thành thói quen và mang bản chất truyền thụ kiến thức một chiều từ giảng viên (GV) Đến sinh viên (SV). Đó là hình thức giảng dạy phổ biến ở đa phần các lớp dạy đại học trên thế giới. Công việc của thầy là dạy và công việc của SV là tiếp nhận, hiểu, và tiếp thu “lời dạy” - lời nói và hành động của thầy. Có thể thấy rõ đặc trưng của MHDH truyền thống thông qua những thành tố sau:

Về mục tiêu dạy học: Hướng vào truyền đạt cho hết những kiến thức đã quy định trong chương trình. Chuẩn bị cho người học thi cử đạt kết quả cao và hoàn thành khóa học, đỗ tốt nghiệp.

Về nội dung dạy học: Thiết kế chủ yếu theo logic nội dung khoa học của các môn học, thường được biểu đạt dưới hình thức công thức, định nghĩa, định lí, nguyên tắc, qui tắc, định luật; Hướng vào ghi nhớ các sự kiện, thông tin khách quan, kiến thức đúng là tối quan trọng; Ít hoặc không quan tâm đến phát triển xã hội.

Về phương pháp dạy học: Chủ yếu là thuyết trình giảng giải, thầy nói trò ghi. GV lo trình bày cặn kẽ nội dung bài học, tranh thủ truyền thụ vốn hiểu biết [9] và kinh nghiệm của mình. SV tiếp thu thụ động, cố hiểu và nhớ những điều GV đã giảng, trả lời những câu hỏi GV nêu ra về những vấn đề đã dạy.

Về hình thức t chức dạy học: Tổ chức theo lớp bài. SV được bố trí học theo lớp phù hợp với ngành học, độ tuổi và khả năng. Tất cả SV trong một lớp được dạy cùng một tài liệu.

Về đánh giá: GV là người độc quyền đánh giá kết quả học tập của SV, chú ý tới khả năng ghi nhớ và tái hiện các thông tin GV đã cung cấp.

1.2.2.3. MHDH d vào tiếp cận năng c (CĐR)

Tiếp cận năng lực thực chất là tiếp cận CĐR trong giáo dục đã được thế giới đề cập đến suốt gần năm thập kỉ qua. Đó cũng là một xu thế toàn cầu và tất yếu trong nhà trường ở mọi cấp học. Trong MHDH định hướng phát triển năng lực, mục tiêu dạy học của chương trình được mô tả thông qua phát triển các nhóm năng lực: Năng lực chuyên; Năng lực phương pháp; Năng lực xã hội; Và năng lực cá thể. Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này.

Nội dung dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ giới hạn trong tri thức và kĩ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm phát triển các lĩnh vực năng lực.

PPDH theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn.

Việc đánh giá kết quả học tập chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau.

1.2.2.4. Xu hướng phát triển MHDH trong GDĐH

Cùng với sự phát triển nhanh về mọi mặt của xã hội, GDĐH đã chuyển mạnh từ nền giáo dục tinh hoa sang giáo dục đại chúng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống văn hoá và nguồn nhân lực trình độ cao. Một số xu hướng đang hiện rõ trên thế giới và sẽ ngày càng phát triển mạnh trong tương lai là:

- Triết lí dạy học hướng tới mục tiêu nhân văn, dân chủ, và phát triển bền vững

- Thay đổi mục tiêu đào tạo theo yêu cầu phát triển xã hội

- Nội dung dạy học chú trọng sự phát triển năng lực cá nhân và được tổ chức cấu trúc linh hoạt giúp cho người học thích ứng dễ dàng

- Thay đổi vai trò của người thầy và cách học của SV. PPDH triển vọng là dựa vào người học và hoạt động của họ

- Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin, điện tử số hóa trong phát triển học liệu, thiết kế và tổ chức quá trình dạy học là xu thế mạnh mẽ

- Xu hướng đánh giá xác thực, dựa vào chuẩn năng lực sẽ thay thế đánh giá truyền thống – dựa vào nội dung. [10]

1.2.3. Nguyên tắc đề xuất MHDH theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo GVKT

1) Đảm bảo phản ánh được những thành tựu của lí luận dạy học hiện đại và phù hợp với yêu cầu của thực tiễn đào tạo GVKT ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

2) Đảm bảo quán triệt vận dụng linh hoạt những luận điểm cơ bản của phương pháp tiếp cận CDIO trên cơ sở kế thừa và phát triển MHDH hiện hành

3) Đảm bảo tính khái quát và cụ thể của MHDH

4) Đảm bảo tính hiệu quả và khả thi trong áp dụng thực tiễn

1.2.4. Những luận điểm cơ bản của phương pháp tiếp cận “CDIO” để xây dựng MHDH trong đào tạo GVKT

1.2.4.1. Bản chất và các ận i m củ phương pháp tiếp cận “CDIO”

Phương pháp tiếp cận CDIO (gọi tắt là tiếp cận CDIO) Là cách thức tiếp cận một mô hình lí thuyết về đào tạo theo định hướng năng lực đầu ra trong các trường đại học kĩ thuật. Mô hình lí thuyết này cung cấp cơ sở khoa học và hệ thống 12 tiêu chuẩn chất lượng đảm bảo cho các cơ sở GDĐH kĩ thuật đào tạo kĩ sư đáp ứng được nhu cầu của các bên liên quan trong bối cảnh doanh nghiệp và xã hội. Mười hai tiêu chuẩn nhắm vào triết lí của chương trình (Tiêu chuẩn 1), phát triển chương trình (Tiêu chuẩn 2,3 và 4), các trải nghiệm thiết kế - triển khai và không gian học tập (Tiêu chuẩn 5 và 6), các phương pháp giảng dạy và học tập mới (Tiêu chuẩn 7 và 8), phát triển giảng viên (Tiêu chuẩn 9 và 10), đánh giá SV và đánh giá CTĐT (Tiêu chuẩn 11 và 12). Trong 12 tiêu chuẩn này, 7 tiêu chuẩn (*) Được xem là thiết yếu vì chúng phân biệt các chương trình “CDIO” với các đề xướng cải cách giáo dục khác. Năm tiêu chuẩn khác hỗ trợ cho chương trình “CDIO” một cách đáng kể và phản ánh những thực hành tốt nhất trong giáo dục kĩ thuật.

1.2.4.2. CĐR củ CTĐT theo tiếp cận “CDIO”

CĐR của một CTĐT chính là sự khẳng định về những điều mà một SV cần phải biết, hiểu và có khả năng làm được khi kết thúc chương trình học.

Dạy học hướng tới CĐR cũng chính là sự cụ thể hóa của dạy học theo tiếp cận năng lực, là một xu thế tất yếu của quá trình dạy học hiện đại. Tuy nhiên, ở nhiều trường đại học của Việt Nam, việc thiết kế CĐR của chương trình học vẫn chưa được quan tâm đúng mức, có khi mang tính hình thức, xây dựng trên cơ sở chương trình hiện hành chứ không hoàn toàn xuất phát từ nhu cầu xã hội; Hoặc còn chung chung, chưa mô tả cụ thể năng lực cần đạt được của người học.

Phương pháp tiếp cận “CDIO” đã khắc phục những bất cập đó thông qua việc chỉ ra một quy trình xây dựng và phát triển CĐR; Thiết kế khung CĐR (gọi là Đề cương “CDIO”) Cho các nhóm ngành đào tạo với 4 cấp độ đủ chi tiết để phát triển chương trình giảng dạy, thiết kế dạy học và đánh giá.

-----------------------------Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục gồm hơn 250Tr có nội dung download dưới đây:

  DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN L.A
1. Đỗ Thế Hưng (2012), “Phát triển chương trình giáo dục đại học theo hướng tích hợp”, Tạp chí Giáo dục, số 294, trang 28-30
2. Đỗ Thế Hưng, Nguyễn Văn Hạnh (2013), “Học tập trải nghiệm trong đào tạo giáo viên kĩ thuật đáp ứng chuẩn nghề nghiệp”, Tạp chí Kho học giáo dục, số 95, trang 28-31
3. Đỗ Thế Hưng, Nguyễn Thị Kim Hoa (2014), “Mô hình dạy học theo tiếp cận các lí thuyết học tập”, Tạp chí Kho học giáo dục, số 100, trang 31-34
4. Đỗ Thế Hưng (2014), “Mô hình dạy học trong giáo dục đại học”, Tạp chí Kho học giáo dục, số 108, trang 61-64
5. Đỗ Thế Hưng, Trần Mai Duyên, Nguyễn Thị Liễu (2014), “Mô hình dạy học theo tiếp cận phương pháp luận “CDIO” trong đào tạo giáo viên kĩ thuật”, Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt Tháng 10, trang 191-193
6. Đỗ Thế Hưng, Nguyễn Thị Liễu (2015), “Mô hình dạy học theo tiếp cận CDIO và áp dụng trong đào tạo giáo viên kĩ thuật”, Tạp chí Kho học giáo dục, số 112, trang 35-38,48 [26]  


DOWNLOAD LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC: DẠY HỌC THEO TIẾP CẬN CDIO TRONG ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN KĨ THUẬT TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC


 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét