Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2015

NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ THẮT GIÃN TĨNH MẠCH THỰC QUẢN KẾT HỢP PROPRANOLOL TRONG DỰ PHÒNG XUẤT HUYẾT TÁI PHÁT VÀ TÁC ĐỘNG LÊN BỆNH DẠ DÀY TĂNG ÁP CỬA DO XƠ GAN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC : NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ THẮT GIÃN TĨNH MẠCH THỰC QUẢN KẾT HỢP PROPRANOLOL TRONG DỰ PHÒNG XUẤT HUYẾT TÁI PHÁT VÀ TÁC ĐỘNG LÊN BỆNH DẠ DÀY TĂNG ÁP CỬA DO XƠ GAN


NCS: TRẦN PHẠM CHÍ


 
Chuyên ngành :  Nội Tiêu Hóa - Mã số :   62 72 01 43



ĐẶT VẤN ĐỀ

Xơ gan là một bệnh lý thường gặp trong các bệnh đường tiêu hoá ở nước ta cũng như trên thế giới. Bệnh xơ gan ảnh hưởng đến hàng trăm triệu người trên thế giới và có xu hướng ngày càng gia tăng, là gánh nặng cho nền kinh tế và xã hội. Ở Mỹ, xơ gan là nguyên nhân không ác tính gây tử vong hàng đầu trong các bệnh lý gan mật - tiêu hoá với tỉ lệ tử vong khoảng 30.000 người mỗi năm [120]. Riêng ở Việt Nam, chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu nào về dịch tễ học bệnh xơ gan nhưng với câu thành ngữ của cha ông nói về các bệnh được xem là nan y: “phong, lao, cổ, lại” cũng có thể biết xơ gan (cổ) là một trong những bệnh khó điều trị khá phổ biến từ thời xa xưa.

Bệnh nhân xơ gan thường tử vong do các biến chứng của hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Một trong những biến chứng nặng, hay gặp và gây tử vong cao nhất là vỡ giãn tĩnh mạch thực quản dạ dày do hậu quả của tăng áp lực tĩnh mạch cửa.

Cùng với sự phát triển của nội soi tiêu hóa, một số nghiên cứu gần đây cho thấy xơ gan có liên quan đến sự hình thành và tiến triển của bệnh dạ dày tăng áp cửa. Ngoài hình ảnh chủ yếu của bệnh dạ dày tăng áp cửa thường thấy trên nội soi là niêm mạc dạng khảm, tổn thương dạng vết trợt cũng được phát hiện ở dạ dày bệnh nhân xơ gan và được một số tác giả xếp loại như là một dạng của bệnh dạ dày tăng áp cửa [40], [41], [42], [112].

Để giảm tỉ lệ tử vong trên bệnh nhân xơ gan, việc điều trị dự phòng xuất huyết do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản có vai trò rất quan trọng. Phương pháp đầu tiên là thuốc chẹn bêta không chọn lọc mà đứng đầu là propranolol. Nhiều nghiên cứu cho thấy propranolol làm giảm tỉ lệ xuất huyết tiên phát cũng như thứ phát. Tuy nhiên, nhược điểm của propranolol là có thể có một số tác dụng phụ làm hạn chế sử dụng trong lâm sàng [32], [37], [45].

Mặt khác, một trong những phương pháp điều trị được sử dụng rộng rãi gần đây là thắt giãn tĩnh mạch thực quản bằng vòng cao su qua nội soi do có tính an toàn và hiệu quả cao [51], [134]. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy có sự liên quan giữa phương pháp điều trị này với tiến triển xấu của bệnh dạ dày tăng áp cửa và sự hình thành giãn tĩnh mạch dạ dày. Hậu quả là sau khi giảm được tỉ lệ xuất huyết do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản, bệnh nhân có nguy cơ xuất huyết do bệnh dạ dày tăng áp cửa hoặc vỡ giãn tĩnh mạch dạ dày [110], [125].

Do đó, việc kết hợp thuốc chẹn bêta không chọn lọc với thắt giãn tĩnh mạch thực quản có thể làm tăng hiệu quả điều trị và làm giảm biến chứng do thắt. Một số nghiên cứu bước đầu cho thấy phương pháp điều trị kết hợp này có ưu thế hơn các phương pháp khác trong điều trị dự phòng xuất huyết tái phát do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản và được các hiệp hội tiêu hóa và nghiên cứu bệnh gan trên thế giới khuyến cáo sử dụng mặc dù cơ sở khoa học chưa được khẳng định chắc chắn [30], [61], [150], [157].

Qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi thấy chưa có nhiều nghiên cứu trên thế giới mà đặc biệt là ở Việt Nam đề cập đến hiệu quả phương pháp điều trị thắt giãn tĩnh mạch thực quản kết hợp propranolol trong dự phòng xuất huyết tái phát do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản cũng như rất ít nghiên cứu về tác động của phương pháp điều trị kết hợp này lên tiến triển của bệnh dạ dày tăng áp cửa và giãn tĩnh mạch dạ dày.

Vì những lý do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu hiệu quả thắt giãn tĩnh mạch thực quản kết hợp propranolol trong dự phòng xuất huyết tái phát và tác động lên bệnh dạ dày tăng áp cửa do xơ gan” với những mục tiêu sau:

1. Khảo sát đặc điểm hình ảnh nội soi và mô bệnh học của bệnh dạ dày tăng áp cửa ở bệnh nhân xơ gan có xuất huyết do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản.

2. Tìm hiểu đặc điểm và so sánh hiệu quả của phương pháp điều trị thắt giãn tĩnh mạch thực quản kết hợp propranolol với propranolol đơn thuần trong dự phòng xuất huyết tái phát do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản ở bệnh nhân xơ gan.

3. Đánh giá tác động của phương pháp điều trị thắt giãn tĩnh mạch thực quản kết hợp propranolol so với propranolol đơn thuần lên bệnh dạ dày tăng áp cửa và giãn tĩnh mạch dạ dày ở bệnh nhân xơ gan.

- Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

+ Ý nghĩa khoa học

Kết quả thu được từ nghiên cứu sẽ giúp tìm hiểu cơ chế tác động của thắt giãn tĩnh mạch thực quản kết hợp propranolol lên tiến triển bệnh dạ dày tăng áp cửa và sự hình thành giãn tĩnh mạch dạ dày ở bệnh nhân xơ gan, góp phần bổ sung thêm kiến thức về sinh bệnh học của các đặc điểm bệnh lý này mà cho tới nay vẫn chưa được hoàn toàn sáng tỏ.

Nghiên cứu cho phép tìm hiểu hình ảnh nội soi, đặc điểm mô bệnh học cùng với các yếu tố liên quan của bệnh dạ dày tăng áp cửa vốn hiện nay vẫn còn ít được đề cập đến.

Hình ảnh nội soi, sự phân bố cũng như các yếu tố liên quan của vết trợt dạ dày sẽ cho phép hiểu rõ hơn cơ chế hình thành tổn thương này trong mối liên quan với bệnh dạ dày tăng áp cửa.

+ Ý nghĩa thực tiễn

Qua nghiên cứu sẽ đánh giá được tần suất, phân bố và phân độ của bệnh dạ dày tăng áp cửa ở bệnh nhân xơ gan có xuất huyết do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản vốn trước đây chưa có nhiều nghiên cứu trong nước đề cập đến.

Nghiên cứu cũng sẽ cho phép đánh giá hiệu quả của phương pháp điều trị phòng ngừa xuất huyết tái phát do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản ở bệnh nhân xơ gan bằng phương pháp thắt giãn tĩnh mạch thực quản kết hợp propranolol.

Nghiên cứu giúp xác định phác đồ điều trị kết hợp một cách đầy đủ để làm triệt tiêu giãn tĩnh mạch thực quản và hiệu quả dự phòng xuất huyết tái phát về kỹ thuật thực hành, số lần và số vòng thắt cũng như xác lập liều trung bình và hiệu quả propranolol cùng với các tác dụng phụ khi sử dụng propranolol ở bệnh nhân xơ gan người Việt Nam.

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. GIÃN TĨNH MẠCH THỰC QUẢN DẠ DÀY Ở BỆNH NHÂN XƠ GAN

1.1.1. Cơ chế hình thành giãn tĩnh mạch thực quản dạ dày

1.1.1.1. Tăng áp lực tĩnh mạch cửa

Tăng áp tĩnh mạch cửa hay gọi vắn tắt hơn là tăng áp cửa là tình trạng bệnh lý làm gia tăng áp lực trong hệ thống tĩnh mạch dẫn máu từ các tạng đến gan. Tuy nhiên, tăng áp cửa không đơn thuần là sự gia tăng áp lực trong hệ thống tĩnh mạch mà là sự gia tăng độ chênh áp lực giữa dòng chảy vào của tĩnh mạch cửa và dòng chảy ra của tĩnh mạch gan. Nguyên nhân chính gây nên tình trạng tăng áp cửa là xơ gan - giai đoạn cuối ở bất kỳ bệnh lý gan mạn nào. Bệnh nhân xơ gan biểu hiện trên lâm sàng hai hội chứng chính: Hội chứng suy chức năng gan và hội chứng tăng áp cửa. Nguyên nhân đầu tiên gây tăng áp cửa là sự gia tăng đề kháng với dòng chảy mạch máu do sự biến đổi cấu trúc nhu mô gan do sự tạo mô xơ và hình thành các nốt gan tân tạo qua quá trình viêm. Ngoài ra, những phát hiện gần đây cho thấy tình trạng tăng áp cửa còn nặng nề hơn do có sự co mạch của hệ thống mạch máu trong gan do có sự suy giảm sản xuất NO tại chỗ cùng với sự tăng sản xuất NO ở mạch máu tạng và ngoại biên, gây giãn mạch làm tăng dòng chảy và tăng thể tích tuần hoàn [77], [113].

Sự hình thành các vòng tuần hoàn bàng hệ với mục đích làm giảm áp lực cửa nhưng vẫn không thành công do hai nguyên nhân: 1. Có sự gia tăng dòng chảy qua tĩnh mạch cửa do giãn mạch máu tạng đồng thời với sự hình thành tuần hoàn bàng hệ. 2. Sự đề kháng của các vòng tuần hoàn bàng hệ ở bệnh nhân xơ gan lớn hơn sự đề kháng của các mạch máu trong gan ở người bình thường. Do đó, sự gia tăng áp lực cửa ở bệnh nhân xơ gan là hậu quả của hai hiện tượng chính: Gia tăng đề kháng với dòng chảy qua hệ thống cửa (bên trong gan và tuần hoàn bàng hệ) Và sự gia tăng dòng chảy trong hệ thống cửa [30].

- Cách đánh giá áp lực tĩnh mạch cửa

Đánh giá áp lực tĩnh mạch cửa trực tiếp khó thực hiện do có tính chất xâm nhập, phức tạp và có nhiều biến chứng [149]. Thay vào đó áp lực tĩnh mạch cửa được đo gián tiếp thông qua đo độ chênh áp lực tĩnh mạch gan (HVPG). Phương pháp này có tính ít xâm nhập, dễ thực hiện mà vẫn phản ánh khá chính xác giá trị áp lực tĩnh mạch cửa. Giá trị của HVPG được tính bằng áp lực tĩnh mạch gan bít (WHVP) Trừ đi áp lực tĩnh mạch gan tự do (FHVP) [82]. Giá trị bình thường của HVPG từ 1 - 5 mmHg, trên 5 mmHg được gọi là tăng áp lực cửa [68], [150], [157]. Tăng áp cửa có ý nghĩa lâm sàng khi độ chênh áp lực tĩnh mạch gan lớn hơn 10 mmHg [64].

1.1.1.2. Tăng dòng chảy và tăng động vòng tuần hoàn

Lưu lượng máu luân chuyển từ tĩnh mạch cửa đến tuần hoàn bàng hệ dạ dày thực quản được xem là một yếu tố quan trọng cho sự hình thành giãn tĩnh mạch thực quản dạ dày. Điều này được minh chứng qua nghiên cứu của Bosch J. Về dòng chảy qua tĩnh mạch đơn, một dấu chỉ điểm của dòng chảy bên thực quản dạ dày ở bệnh nhân xơ gan. Nghiên cứu này cho thấy có sự liên quan chặt chẽ giữa lưu lượng dòng chảy qua tĩnh mạch đơn và mức độ tăng áp cửa cũng như kích thước của giãn tĩnh mạch thực quản [47].

Đồng thời tăng dòng chảy là tăng thể tích máu, làm tăng cung lượng tim, tạo nên hiện tượng tăng động của vòng tuần hoàn. Nghiên cứu của García Pagan J. C. Cho thấy chế độ ăn giảm muối hay dùng spironolactone làm giảm thể tích máu qua đó làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa [65].

1.1.1.3. Gia tăng đề kháng của hệ thống cửa và tuần hoàn bàng hệ

Độ chênh áp trong hệ thống cửa (Portal pressure gradient: PPG) Cũng như trong bất kỳ hệ thống mạch máu khác đều tuân theo định luật Ohm: PPG = dòng máu chảy x đề kháng của mạch máu. Đề kháng của hệ thống cửa bao gồm tĩnh mạch cửa, các vòng tuần hoàn bàng hệ và tuần hoàn trong gan.

Đề kháng của hệ thống tuần hoàn bàng hệ mặc dù thấp hơn đề kháng trong tĩnh mạch cửa của bệnh nhân xơ gan nhưng lại cao hơn đề kháng trong tĩnh mạch cửa ở người bình thường. Do đó, sự hình thành các vòng tuần hoàn bàng hệ vẫn không thể bình thường hoá áp lực tĩnh mạch cửa được. Ngược lại, sự hình thành hệ thống tuần hoàn bàng hệ làm dòng chảy qua tĩnh mạch cửa gia tăng nên tình trạng tăng áp càng nặng nề hơn [30], [46].

1.1.1.4. Rối loạn chức năng các yếu tố nội mạc

Sự rối loạn về hệ thống tuần hoàn vi mạch trong gan cũng như tuần hoàn ngoại vi là yếu tố chính gây nên tình trạng tăng áp tĩnh mạch cửa.

Tế bào nội mạc mạch máu xoang gan (SEC) Có vai trò quan trọng trong việc điều hoà trương lực mạch máu trong gan thông qua tế bào hình sao. Các chất hoạt mạch được phóng thích ra từ SEC như endothelin 1, angiotensin II, thromboxan A2 và thrombin gây co mạch. Ngược lại, acetylcholine, vasointestinal peptide, NO, carbon oxide, adrenomedullin gây giãn mạch [77].

Nguyên nhân của sự rối loạn của SEC có thể là do tổn thương nhu mô gan trong qua trình xơ gan. Tổn thương cơ bản nhất của xơ gan là sự thu hẹp và mất các lỗ của lớp nội mạc và sự xuất hiện lớp collagen ở màng đáy dưới nội mạc xoang gan. Hậu quả là sự di chuyển các phân tử có trọng lượng nhỏ từ xoang gan đến khoảng Disse trở nên khó khăn, dẫn đến sự rối loạn chức năng của hàng rào lọc máu, suy giảm khả năng trao đổi hai chiều giữa xoang gan và tế bào chủ mô gan (Hình 1.1) [140].

Hậu quả của sự thay đổi cấu trúc do xơ gan dẫn đến chức năng của lớp nội mạc hệ thống mạch máu trong gan bị rối loạn. Nghiên cứu trên những bệnh nhân xơ gan cho thấy không như người bình thường, bệnh nhân xơ gan không thể điều chỉnh thích ứng với sự gia tăng lưu lượng dòng chảy tĩnh mạch cửa do tăng lưu lượng tuần hoàn sau ăn. Hơn nữa, rối loạn chức năng của lớp nội mạc được biểu hiện bằng sự giảm đáp ứng với yếu tố gây giãn mạch của hệ thống mạch máu trong gan. Sự suy giảm này được cho là do giảm sản xuất NO và giảm đáp ứng của lớp nội mạc với NO [77].

Hình1.1. Sự khác nhau giữa cấu trúc xoang gan người bình thường (A) và bệnh nhân xơ gan (B) [140].

Ngược với tuần hoàn trong gan, có sự tăng hoạt tế bào nội mạc mạch máu tạng và ngoại vi làm tăng sản xuất và tăng đáp ứng với NO, dẫn đến sự giãn mạch máu ngoại vi gây tăng động vòng tuần hoàn, làm tình trạng tăng áp lực cửa càng nặng nề hơn [77].

1.1.2. Cơ chế gây vỡ giãn tĩnh mạch

Cơ chế gây vỡ giãn tĩnh mạch được chấp nhận nhiều nhất là cơ chế bùng nổ trong đó nguyên nhân quyết định là sự gia tăng áp lực thủy tĩnh bên trong giãn tĩnh mạch với những thay đổi về huyết động và các hậu quả đi kèm: Gia tăng kích thước và giảm độ dày tĩnh mạch giãn [46].

1.1.2.1. Vai trò các yếu tố huyết động

- Gia tăng áp lực tĩnh mạch cửa

Nhiều nghiên cứu cho thấy giãn tĩnh mạch vỡ chỉ khi độ chênh áp tĩnh mạch gan HVPG lớn hơn 12 mmHg. Ngược lại, khi HVPG nhỏ hơn 12 mmHg bằng cách điều trị với thuốc hay đặt TIPS thì nguy cơ vỡ giãn tĩnh mạch sẽ gần như không có. Thậm chí, giãn tĩnh mạch có thể giảm kích thước và biến mất [48], [68]. Tương tự, khi HVPG giảm lớn hơn 20% áp lực ban đầu thì nguy cơ vỡ giãn tĩnh mạch là rất thấp [32], [37].

- Tăng áp lực trong lòng tĩnh mạch giãn

Nghiên cứu của Rigau J. Cho thấy áp lực trong tĩnh mạch giãn liên quan có ý nghĩa với áp lực tĩnh mạch cửa. Đồng thời, những bệnh nhân xuất huyết do vỡ giãn tĩnh mạch có áp lực trong giãn tĩnh mạch cao hơn so với bệnh nhân không xuất huyết cho dù áp lực tĩnh mạch cửa là giống nhau. Nghiên cứu của Feu F. Cho thấy propranolol ngoài tác dụng hạ áp lực cửa còn có tác dụng làm giảm đáng kể áp lực trong tĩnh mạch giãn [62], [119].

Những thay đổi áp lực ổ bụng (bệnh nhân có cổ trướng căng hay chọc tháo cổ trướng) Đều có ảnh hưởng đến áp lực giãn tĩnh mạch gây tăng hoặc giảm nguy cơ xuất huyết. Khi áp lực ổ bụng tăng, áp lực tĩnh mạch cửa cũng như áp lực trong tĩnh mạch giãn đều tăng, gây nguy cơ xuất huyết. Ngược lại, khi chọc cổ trướng làm giảm áp lực ổ bụng, giảm áp lực tĩnh mạch cửa và tĩnh mạch giãn, giảm nguy cơ xuất huyết [60], [94].

Áp lực trong giãn tĩnh mạch lớn cao hơn so với giãn tĩnh mạch nhỏ.

Điều này cho thấy rằng có thể áp lực trong giãn tĩnh mạch góp phần quyết định kích thước của giãn tĩnh mạch. Áp lực trong giãn tĩnh mạch có liên quan đến nguy cơ và độ trầm trọng của xuất huyết [119].

1.1.2.2. Kích thước giãn tĩnh mạch

Bệnh nhân xuất huyết do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản có kích thước giãn tĩnh mạch lớn hơn so với những bệnh nhân không xuất huyết. Hơn nữa, nguy cơ xuất huyết do vỡ giãn tĩnh mạch liên quan trực tiếp đến kích thước của vỡ giãn tĩnh mạch [46].

1.1.2.3. Áp lực lên thành giãn tĩnh mạch

Giãn tĩnh mạch vỡ khi áp lực bên trong lòng mạch lớn hơn sức chống đỡ của thành mạch. Khi áp lực gia tăng, độ co giãn của thành mạch cũng thay đổi theo nhằm bảo vệ thành mạch. Nhưng khi áp lực tăng quá cao, độ đàn hồi của lòng mạch không thể tăng hơn được nữa, hiện tượng vỡ mạch sẽ xảy ra.

Hình 1.2. Cơ chế vỡ giãn tĩnh mạch thực quản [82].

Theo định luật Laplace WT = (p1 - p2) X r/w biểu thị áp lực lên thành tĩnh mạch giãn trong đó WT là áp lực lên thành tĩnh mạch giãn, p1: Áp lực trong lòng tĩnh mạch giãn, p2: Áp lực trong lòng thực quản, r: Bán kính tĩnh mạch giãn, w: Thành tĩnh mạch giãn (Hình 1.2).

Áp lực tác động lên thành mạch (WT) Tỉ lệ thuận với áp lực trong lòng mạch (p1), đường kính lòng mạch (r) Và tỉ lệ nghịch với độ dày thành mạch (w).

Định luật này phù hợp với những quan sát được trên lâm sàng: Tăng áp lực trong lòng mạch, tăng kích thước mạch máu và sự xuất hiện chấm đỏ trên thành mạch (dấu thành mạch mỏng đi) Là những dấu nguy cơ gây xuất huyết vỡ giãn tĩnh mạch [82].

1.1.2.4. Vị trí giải phẫu vỡ giãn tĩnh mạch

Vị trí vỡ giãn tĩnh mạch hay gặp nhất là vùng 1/3 dưới thực quản, vị trí giải phẫu của vùng hàng rào (palisade zone, vùng từ vị trí đường nối dạ dày thực quản lên trên 2 - 3 cm) Và vùng dễ vỡ (perforating zone, vùng tiếp nối vùng hàng rào kéo dài 3 - 5 cm) Của tĩnh mạch thực quản nơi các tĩnh mạch nằm nông ở vị trí màng đệm. Ở các vùng này giãn tĩnh mạch thực quản không có lớp mô bên ngoài hỗ trợ nên dần dần dễ bị giãn và vỡ dưới tác động của tăng áp cửa [46].

======================== Luận án tiến sĩ y học trên gồm gần 160Tr với nội dung như sau:

BẢNG VIẾT TẮT

BDDTAC: Bệnh dạ dày tăng áp cửa
CBKCL: Chẹn bêta không chọn lọc
CS: Cộng sự
GTMTQ: Giãn tĩnh mạch thực quản
AASLD: American Association for the Study of Liver Disease (Hiệp hội nghiên cứu bệnh gan Hoa Kỳ)
GAVE: Gastric Antral Vascular Ectasia (Giãn mạch máu vùng hang vị) H. Pylori: Helicobacter pylori
HVPG: Hepatic Venous Pressure Gradient (Độ chênh áp lực tĩnh mạch gan)
INR: International Normalized Ratio (Chỉ số bình thường hóa quốc tế)
ISMN: Isosorbide Mononitrate
NIEC: North Italian Endoscopic Club (Câu lạc bộ Nội soi Bắc Italia)
NO: Nitric Oxide
SEC: Sinusoidal Endothelial Cell (Tế bào nội mạc mạch máu xoang gan)
TIPS: Transjugular Intrahepatic Portosystemic Shunt (Đặt Shunt cửa chủ trong gan qua tĩnh mạch cảnh)
VEGF: Vascular Endothelial Growth Factor (Yếu tố tăng trưởng nội mạc mạch máu)



MỤC LỤC

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giãn tĩnh mạch thực quản dạ dày ở bệnh nhân xơ gan
1.2. Bệnh dạ dày tăng áp cửa ở bệnh nhân xơ gan
1.3. Phương pháp điều trị giãn tĩnh mạch thực quản bằng propranolol và thắt giãntĩnh mạch thực quản ở bệnh nhân xơ gan
1.4. Tác động của thắt giãn tĩnh mạch thực quản đơn thuần hay kết hợp propranolol lênbệnh dạ dày tăng áp cửa và giãn tĩnh mạch dạ dày ở bệnh nhân xơ gan
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.3. Đạo đức nghiên cứu khoa học
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu
3.2. Đặc điểm nội soi và mô bệnh học bệnh dạ dày tăng áp cửa
3.3. Đặc điểm và hiệu quả của phương pháp điều trị
3.4. Tác động của phương pháp điều trị lên bệnh dạ dày tăng áp cửa và giãn tĩnhmạch dạ dày
CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu
4.2. Đặc điểm nội soi và mô bệnh học bệnh dạ dày tăng áp cửa
4.3. Hiệu quả của phương pháp điều trị
4.4. Tác động của phương pháp điều trị lên bệnh dạ dày tăng áp cửa và giãntĩnh mạch dạ dày

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1. Thang điểm Child - Pugh
Bảng 3.1. Đặc điểm về tuổi
Bảng 3.2. Tỉ lệ nguyên nhân xơ gan
Bảng 3.3. Nguyên nhân xơ gan và giới
Bảng 3.4. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
Bảng 3.5. Phân bố và mức độ nặng bệnh dạ dày tăng áp cửa trên nội soi
Bảng 3.6. Phân bố vị trí vết trợt dạ dày
Bảng 3.7. Mối liên quan giữa bệnh dạ dày tăng áp cửa, vết trợt dạ dày và phân độgiãn tĩnh mạch thực quản
Bảng 3.8. Mối liên quan giữa bệnh dạ dày tăng áp cửa, vết trợt dạ dày và nguyên nhânxơ gan
Bảng 3.9. Liên quan giữa bệnh dạ dày tăng áp cửa, vết trợt dạ dày và phân độ Child - Pugh
Bảng 3.10. Liên quan giữa bệnh dạ dày tăng áp cửa, vết trợt dạ dày và cổ trướng
Bảng 3.11. Đặc điểm tổn thương giải phẫu bệnh
Bảng 3.12. Đặc điểm thắt giãn tĩnh mạch thực quản
Bảng 3.13. Liều propranolol
Bảng 3.14. Biến chứng do thắt giãn tĩnh mạch thực quản
Bảng 3.15. Tác dụng phụ do propranolol
Bảng 3.16. Tác dụng phụ propranolol và liều propranolol
Bảng 3.17. Tỉ lệ triệt tiêu giãn tĩnh mạch thực quản
Bảng 3.18. Tỉ lệ triệt tiêu giãn tĩnh mạch thực quản theo thời gian
Bảng 3.19. Phân độ giãn tĩnh mạch thực quản sau 3 tháng
Bảng 3.20. Phân độ giãn tĩnh mạch thực quản sau 6 tháng
Bảng 3.21. Tỉ lệ xuất huyết sau thắt
Bảng 3.22. Phân bố bệnh dạ dày tăng áp cửa trên nội soi theo thời gian
Bảng 3.23. Mức độ nặng bệnh dạ dày tăng áp cửa theo thời gian
Bảng 3.24. Phân bố vết trợt dạ dày trên nội soi theo thời gian
Bảng 3.25. Giãn tĩnh mạch dạ dày sau 3 tháng
Bảng 3.27. Phân bố vị trí hình ảnh phù nề niêm mạc dạ dày trên giải phẫu bệnh theothời gian
Bảng 3.28. Phân bố vị trí hình ảnh giãn mạch trên giải phẫu bệnh theo thời gian
Bảng 3.29. Phân bố vị trí hình ảnh mạch máu tân tạo trên giải phẫu bệnhtheo thời gian
Bảng 3.30. Phân bố vị trí hình ảnh xâm nhập tế bào lympho trên giải phẫu bệnhtheo thời gian
Bảng 3.31. Phân bố vị trí hình ảnh xơ hóa trên giải phẫu bệnh theo thời gian
Bảng 3.32. Phân bố vị trí hình ảnh quá sản biểu mô tuyến trên giải phẫu bệnhtheo thời gian

DANH MỤC HÌNH

Hình1.1. Sự khác nhau giữa cấu trúc xoang gan người bình thường (A) Và bệnhnhân xơ gan (B)
Hình 1.2. Cơ chế vỡ giãn tĩnh mạch thực quản
Hình 1.3. Phân loại bệnh dạ dày tăng áp cửa theo Baveno III
Hình 1.4. Công thức hóa học của propranolol
Hình1.5. Nguyên lý thắt giãn tĩnh mạch thực quản
Hình 1.6. Đặc điểm giải phẫu hệ thống tĩnh mạch cửa
Hình 2.1. Phân độ giãn tĩnh mạch thực quản
Hình 2.2. Bộ thắt 6 vòng cao su
Hình 3.1. Bệnh dạ dày tăng áp cửa nhẹ vùng thân vị
Hình 3.2. Bệnh dạ dày tăng áp cửa nặng vùng thân vị
Hình 3.3. Vết trợt dạ dày vùng hang vị
Hình 3.4. Biểu mô thân vị phù nề, tăng tiết
Hình 3.5. Mạch máu giãn thân vị
Hình 3.6. Mạch máu tân tạo thân vị
Hình 3.7. Tăng sinh xơ hang vị
Hình 3.8. Biểu mô tuyến tăng tiết, quá sản thân vị
Hình 3.9. Xâm nhập lympho bào hang vị
Hình 3.10. Loét thực quản sau thắt
Hình 3.11. Giãn tĩnh mạch dạ dày mức độ trung bình phía bờ cong nhỏ (GOV1), sau 3 tháng
Hình 3.12. Giãn tĩnh mạch dạ dày mức độ lớn phía phình vị (GOV2), sau thắt GTMTQ 6 tháng

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1. Diễn tiến bệnh dạ dày tăng áp cửa
Biểu đồ 3.1. Đặc điểm về giới
Biểu đồ 3.2. Tần suất không xuất huyết theo thời gian
Biểu đồ 3.3. Tần suất sống còn theo thời gian

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1. Sinh bệnh học tăng áp tĩnh mạch cửa, hình thành và vỡ giãn tĩnh mạch
Sơ đồ 1.2. Sinh bệnh học bệnh dạ dày tăng áp cửa

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Mai Hồng Bàng (2005), “Thắt tĩnh mạch cấp cứu điều trị xuất huyết tiêu hoá do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản”, Y học thực hành, 11, tr. 48-50.
2. Bộ Y tế-JICA CRH Technical cooperation project (1999), Tài liệu hướng dẫn nội soi dạ dày tá tràng, Bệnh viện Chợ Rẫy, tr. 13-14, 20-21.
3. Phạm Quang Cử (2003), “Nhận xét một số yếu tố tiên lượng biến chứng xuất huyết tiêu hoá do giãn tĩnh mạch thực quản ở bệnh nhân xơ gan”, Y học thực hành, 8, tr. 14-16.
4. Nguyễn Xuân Hiên (2009), “Nghiên cứu hình ảnh nội soi của niêm mạc thực quản ở bệnh nhân xơ gan”, Tạp chí khoa học Tiêu hóa Việt Nam, tr. 1075-1079.
5. Trần Văn Huy, Phạm Văn Lình, Phạm Minh Đức (2006), “Hiệu quả của kỹ thuật thắt vòng cao su qua nội soi trong điều trị xuất huyết do vỡ tĩnh mạch trướng thực quản”, Y học thực hành, 532, tr. 23-29.
6. Trần Văn Huy (2006), “Hiệu quả của thắt vòng cao su qua nội soi kết hợp với propranolol trong dự phòng tái phát vỡ giãn tĩnh mạch thực quản ở bệnh nhân xơ gan”, Y học Việt Nam, Chuyên đề gan mật, tr. 140-149.
7. Trần Văn Huy (2012), “Cập nhật về điều trị và dự phòng xuất huyết tiêu hóa do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản”, Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 16 (3), tr. 12-17.
8. Nguyễn Mạnh Hùng, Vũ Văn Khiên, Nguyễn Tiến Thịnh và CS (2011), “Đánh giá kết quả 7 năm thắt tĩnh mạch thực quản qua nội soi ở bệnh nhân xơ gan có xuất huyết tiêu hoá do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản”, Y học thực hành, 768 (6), tr. 21-24.
9. Vũ Văn Khiên, Bùi Văn Lạc (2002), “Kết quả điều trị thắt tĩnh mạch thực quản cho 20 bệnh nhân”, Y học thực hành, 9, tr. 22-24.
10. Vũ Văn Khiên, Vũ Trường Khanh, Nguyễn Mạnh Hùng và CS (2012), “Hiệu quả cầm máu cấp cứu và làm mất búi giãn ở bệnh nhân xơ gan có xuất huyết tiêu hoá do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản”, Tạp chí Gan Mật Việt Nam, 20, tr. 40-46.
11. Đinh Quí Lan (2011), “Tình hình bệnh gan mật Việt Nam và các giải pháp chiến lược”, Tạp chí Gan Mật Việt Nam, 16 & 17, tr. 7-9.
12. Nguyễn Phước Lâm (2011), “Hiệu quả điều trị nội soi cấp cứu xuất huyết tiêu hoá do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản”, Tạp chí khoa học Tiêu hóa Việt Nam, 5 (24), tr. 1596-1603.
13. Tạ Long (2003), Bệnh lý dạ dày-tá tràng và vi khuẩn Helicobacter pylori, Nhà xuất bản Y học, tr. 43-45, 68-77.
14. Lê Thành Lý (2012), “Nghiên cứu đánh giá sơ bộ kết quả điều trị dự phòng tiên phát xuất huyết tiêu hoá do vỡ tĩnh mạch thực quản giãn”, Tạp chí khoa học Tiêu hóa Việt Nam, 26, tr. 1750-1756.
15. Netter F.H. (1997), “Các tĩnh mạch của thực quản”, Atlas giải phẫu người, Nhà xuất bản Y học, tr. 226.
16. Mã Phước Nguyên (2006), “Giá trị của tỉ lệ số lượng tiểu cầu trên đường kính lách trong dự đoán giãn tĩnh mạch thực quản trên bệnh nhân xơ gan”, Y học Việt Nam, Số đặc biệt, tr. 129-134.
17. Trần Ngọc Lưu Phương, Nguyễn Thị Cẩm Tú, Nguyễn Thị Thanh Trúc (2010), “Khảo sát đặc điểm nội soi dạ dày-thực quản trên bệnh nhân xơ gan”, Tạp chí y học TP Hồ Chí Minh, 14 (2), tr. 95-101.
18. Đỗ Thị Oanh, Dương Hồng Thái, Nguyễn Thu Thủy và CS (2007), “Thắt tĩnh mạch qua nội soi trong điều trị dự phòng xuất huyết do vỡ búi giãn tĩnh mạch thực quản ở bệnh nhân xơ gan”, Tạp chí khoa học Tiêu hoá Việt Nam, 2 (6), tr. 349-354.
19. Nguyễn Quang Quyền và Bộ môn giải phẫu học TP Hồ Chí Minh (2011), “Gan”, Bài giảng Giải phẫu học, Nhà xuất bản Y học, tr. 133-153.
20. Dương Hồng Thái (2001), “Nghiên cứu kết quả tiêm xơ và thắt búi giãn tĩnh mạch thực quản qua nội soi ở bệnh nhân xơ gan”, Luận án tiến sĩ y học, Học viện quân y.
21. Dương Hồng Thái, Phạm Kim Liên, Vũ Văn Thành (2008), “Nghiên cứu tác dụng làm giảm dấu đỏ và kích thước búi giãn tĩnh mạch thực quản của propranolol trong dự phòng xuất huyết ở bệnh nhân xơ gan”, Tạp chí khoa học Tiêu hoá Việt Nam, 3 (2), tr. 674-680.
22. Hoàng Trọng Thảng (2006), “Xơ gan”, Bệnh tiêu hoá-gan-mật, Nhà xuất bản Y học, tr. 315-330.
23. Hoàng Trọng Thảng, Phan Trung Tiến (2008), “Nghiên cứu số lượng tiểu cầu, đường kính lách, tỷ số tiểu cầu đường kính lách ở bệnh nhân xơ gan để dự báo sự hiện diện giãn tĩnh mạch thực quản”, Tạp chí Gan Mật Việt Nam, Số đặc biệt, tr. 28-33.
24. Nguyễn Duy Thắng (2011), “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, nội soi thực quản ở bệnh nhân xơ gan”, Tạp chí Nội Khoa Việt Nam, Kỷ yếu 7/2011, tr. 223-226.
25. Nguyễn Ngọc Thành, Nguyễn Thúy Oanh (2012), “Đánh giá hiệu quả phương pháp dự phòng vỡ giãn tĩnh mạch thực quản tái phát bằng thắt thun kết hợp propranolol”, Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 16 (3), tr. 29-35.
26. Trần Thiện Trung (2008), “Viêm dạ dày, phân loại, chẩn đoán và điều trị”, Bệnh dạ dày-tá tràng và nhiễm Helicobacter pylori, Nhà xuất bản Y học, tr. 97-126.
27. Lê Văn Trường (2011), “Hiệu quả của kỹ thuật TIPS trong kiểm soát xuất huyết do vỡ tĩnh mạch thực quản dạ dày ở bệnh nhân xơ gan tăng áp tĩnh mạch cửa”, Tạp chí Y Dược lâm sàng 108, 6, tr. 268-277.
28. Nguyễn Ngọc Tuấn (2003), “Thắt kết hợp chích xơ cấp cứu trong điều trị xuất huyết tiêu hoá do vỡ dãn tĩnh mạch thực quản”, Y học TP Hồ Chí Minh, 2, tr. 100-104.
29. Trần Ánh Tuyết (2008), “Khảo sát một số yếu tố dự báo có giãn tĩnh mạch thực quản trên bệnh nhân xơ gan”, Tạp chí khoa học Tiêu hóa Việt Nam, 3 (10), tr. 586-593.
30. AASLD practice guidelines (2007), “Prevention and management of gastroesophageal varices and variceal hemorrhage in cirrhosis”, Hepatology, 46 (3), pp. 922-938.
31. Abbasi A., Bhutto A.R. (2011), “Frequency of portal hypertensive gastropathy and its relationship with biochemical, haematological and endoscopic features in cirrhosis”, Journal of the college of physicians and surgeons Pakistan, 21 (12), pp. 723-726.
32. Abraldes J.G., Tarantino I., et al (2003), “Hemodynamic response to pharmacological treatment of portal hypertension and long term prognosis of cirrhosis”, Hepatology, 37 (4), pp. 902-908.
33. ACG practice guidelines (2010), “Alcoholic liver disease”, American J Gastroenterol, 105, pp. 14-32.
34. Agnihotri N., Kaur S., et al (1997), “Diminution in parietal cell number in experimental portal hypertensive gastropathy”, Dig Dis Sci, 42 (2), pp. 431-439.
35. Ahmad I., Khan A.A., et al (2009), “Propranolol, Isosorbide mononitrate and endoscopic band ligation-alone or in varying combinations for the prevention of esophageal variceal rebleeding”, Journal of college of physicians and surgeons Pakistan, 19 (5), pp. 283-286.
36. Altintas E., Sezgin O., et al (2004), “Esophageal variceal ligation for acute variceal bleeding: Results of three years’ follow-up”, Turk J Gastroenterol, 15 (1), pp. 27-33.
37. d’Amico G.,Garcia-Pagan J.C., et al (2006), “Hepatic vein pressure gradient reduction and prevention of variceal bleeding in cirrhosis: A systematic review”, Gastroenterology, 131 (5), pp. 1611-1624.
38. Arakawa T., Tarnawski A., et al (1990), “Impared generation of prostaglandins from isolated gastric surface epithelial cells in portal hypertensive rats”, Prostaglandins, 40 (4), pp. 373-382.
39. Arthus M.J.P., Tanner A.R., et al (1985), “Pharmacology of propranolol in patients with cirrhosis and portal hypertension”, Gut, 26, pp.14-19.
40. Auroux J., Lamarque D., et al (2003), “Gastroduodenal ulcer and erosions are related to portal hypertensive gastropathy and recent alcohol intake in cirrhotic patients”, Dig Dis Sci, 48 (6), pp. 1118-1123.
41. Balzano A., Mosca S., et al (1991), “Gastric antral erosions and Helicobacter pylori infection in cirrhotic patients: a pilot controlled study of oral bismuth vs ranitidine therapy”, Ital J Gastroenterol, 23 (3), pp. 132-135.
42. Barakat M., Mostafa M., et al (2005), “Gastric profile in portal hypertensive gastropathy”, Arab Journal of Gastroenterology, 6 (1), pp. 7-18.
43. Bayraktar Y., Balkanci F., et al (1996), “Is portal hypertension due to liver cirrhosis a major factor in the development of portal hypertensive gastropathy?”, Am J Gastroenterol, 91 (3), pp. 554-558.
44. Bellis L., Nicodemo S., et al (2007), “Hepatic venous pressure gradient does not correlate with the present and severity of portal hypertensive gastropathy in patients with liver cirrhosis”, J Gastrointestin Liver Dis, 16 (3), pp. 273-277.
45. Bernard B., Lebrec D., et al (1997), “Beta-adrenergic antagonists in the prevention of gastrointestinal rebleeding in patients with cirrhosis: a meta-analysis”, Hepatology, 25 (1), pp. 63-70.
46. Berzigotti A., Escorsell A., Bosch J. (2001), “Pathophysiology of variceal bleeding in cirrhotics”, Annals of Gastroenterology, 14 (3), pp. 150-157.
47. Bosh J., Masti R., Kravetz D., et al (1984), “Effects of propranolol on azygos venous blood flow and hepatic and systemic hemodynamic in cirrhosis”, Hepatology, 4 (6), pp. 1200-1205.
48. Boyer T.D., Haskal Z.J. (2009), “The role of transjugular intrahepatic portosystemic shunt (TIPS) in the management of portal hypertension: Update 2009, AASLD pratice guideline update”, Hepatology, 51 (1), pp. 1-16.
49. Burak K.W., Lee S.S., Beck P.L. (2001), “Portal hypertension gastropathy and gastric antral vascular ectasia (GAVE) syndrome”, Gut, 49, pp. 866-872.
50. Carpinelli L., Primignani M., Preatoni P., et al (1997), “Portal hypertensive gastropathy: reproducibility of a classification, prevalence of elementary lesions, sensitivity and specifity in the diagnosis of cirrhosis of the liver. A NIEC multicentre study. New Italian Endoscopic club”, Ital J Gastroenterol Hepatol, 29 (6), pp. 533-540.
51. Cordon J.P., Torres C.F., García A.B., et al (2012), “Endoscopic management of esophageal varices”, World J Gastrointest Endosc, 4 (7), pp. 312-322.
52. Curvêlo L.A., Brabosa W., Rhor H., et al (2009), “Underlying mechanism of portal hypertensive gastropathy in cirrhosis: a hemodynamic and morphological approach”, J Gastroenterol Hepatol, 24 (9), pp. 1541-1546.
53. Dong L., Zhang Z.N., Fang P., Ma S.Y. (2003), “Portal hypertensive gastropathy and its interrelated factors”, Hepatobiliary & Pancreatic diseases International, 2 (2), pp. 226-229.
54. Drăglia A., Drăglia F., Coman L. (2010), “The gastric mucosa in portal hypertension: structural observation”, Romanian Journal of Morphology and Embryology, 51 (2), pp. 271-275.
55. Dunk A.A., More J., Simpson A., et al (1988), “The effects of propranolol on hepatic encephalopathy in patients with cirrhosis and portal hypertension”, Aliment Pharmacol Ther, 2 (2), pp. 143-151.
56. Eleftheriadis E. (2001), “Portal hypertensive gastropathy”, Annals of gastroenterology, 14 (3), pp. 196-204.
57. El-Khayat H.R., Khattib A.E., Nosseir M., et al (2010), “Portal hypertensive gastropathy before and after variceal obliteration: an endoscopic, histopathologic and immunohistochemical study”, J Gastrointestin Liver Dis, 19 (2), pp. 175-179.
58. El-Newihi H.M., Kanji V.K., Mihas A.A. (1996), “Activity of gastric mucosal nitric oxide synthase in portal hypertensive gastropathy”, Am J Gastroenterol, 91 (3), pp. 585-588.
59. Escorcell A., Bordas J.M, Feu F., et al (1997), “Endoscopic assessment of variceal volume and wall tension in cirrhotic patients: Effects of pharmacological therapy”, Gastroenterology, 113 (5), pp. 1640-1646.
60. Escorcell A., Gines A., Llach J. et al (2002), “Increasing intra-abdominal pressure, volume, and wall tension in esophageal varices”, Hepatology, 36 (4), pp. 936-940.
61. European Association for the Study of the Liver (2010), “EASL clinical practice guidelines on the management of ascites, spontaneous bacterial peritonitis, and hepatorenal syndrome in cirrhosis, Clinical practice guidelines”, Journal of Hepatology, 53, pp. 397-414.
62. Feu F., Bordas J.M., García-Pagan J.C., et al (1991), “Double-blind investigation of the effects of propranolol and placebo on the pressure of esophageal varices in patients with portal hypertention”, Hepatology, 13 (5), pp. 917-922.
63. Feu F, García-Pagan J.C., Bosch J., et al (1995), “Relation between portal pressure response to pharmacotherapy and risk of recurrent variceal haemorrhage in patients with cirrhosis”, Lancet, 21 (346), pp. 1056-1059.
64. de Franchis R. (2000), “Updating consensus in portal hypertension: Report of Baveno III. Consensus workshop on definitions, methodology and therapeutic strategies in portal hypertension”, Journal of Hepatology, 33, pp. 846-852.
65. García Pagan J.C., Salmeron J.M., Feu F., et al (1994), “Effects of low sodium diet and spironolactone on portal pressure in patients with compensated cirrhosis”, Hepatology, 19, pp. 1095-1099.
66. García-Pagan J.C., Villanueva C., Allbilos A., et al (2009), “Nadolol plus isosorbide momonitrate alone or associated with band ligation in the prevention of recurrent bleeding. A multicenter randomized controlled trial”, Gut, 58, pp. 1144-1150.
67. Garcia-Tsao G., Grace N.D., Grosmann R.J., et al (1986), “Short-term effects of propranolol on portal venous pressure”, Hepatology, 6 (1), pp. 101-106.
68. Garcia-Tsao G., Bosch J., Groszmann R.J. (2008), “Portal hypertension and variceal bleeding-Unresolvedissues. Summary of an American Association for the Study of Liver Diseases and Europian Assosiation for the Study of the Liver single topic conference”, Hepatology, 47 (5), pp. 1764-1772.
69. Garcia-Tsao G., Bosch J. (2010), “Management of varices and variceal hemorrhage in cirrhosis”, N Engl J Med, 362, pp. 823-832.
70. Geraghty J.G., Angerson W.J., Carter D.C. (1992), “Erosive gastritis and portal hypertension”, HBP surgery, 6, pp. 19-22.
71. Gonzales R., Zamora J., Gomez-Camarero J., et al (2008), “Meta analysis: Combination endoscopic and drug therapy to prevent variceal rebleeding in cirrhosis”, Ann Intern Med, 149, pp. 109-122.
72. Gupta R., Saraswat V.A., Kumar M., et al (1996), “Frequency and factors influencing portal hypertensive gastropathy and duodenopathy in cirrhotic portal hypertension”, J Gastroenterol Hepatol, 11 (8), pp. 728-733.
73. Hartleb M., Michielsen P.P., Dziurkowska-Marek A. (1997), “The role of nitric oxide in portal hypertensive systemic and portal vascular pathology”, Acta Gastroenterol Belg, 60 (3), pp. 222-232.
74. Hilton P., Lebrec D., Munoz C., et al (1982), “Comparison of the effects of a cardioselective and a nonselective beta-blocker on portal hypertension in patients with cirrhosis”, Hepatology, 2 (5), pp. 528-531.
75. Hosking S.W., Kenedy H.J., Seddon I., Triger D.R. (1987), “The role of propranolol in congestive gastropathy of portal hypertension”, Hepatology, 7 (3), pp. 437-441.
76. Hou M.C., Lin H.C., Chen C.H., et al (1995), “Change in portal hypertensive gastropathy after endoscopic variceal sclerotherapy or ligation: an endoscopic observation”, Gastrointest Endosc, 42, pp. 139-144.
77. Iwakiri Y., Groszmann R.J. (2007), “Vascular endothelial dysfunction in cirrhosis”, Journal of Hepatology, 46, pp. 927-934.
78. Iwao T. (1992), “Portal hypertensive gastropathy in patients with cirrhosis”, Gastroenterology, 102 (6), pp. 2060-2065.
79. Iwao T., Toyonaga A., Ikegami M., et al (1993), “Reduce gastric mucosal blood flow in patients with portal hypertensive gastropathy”, Hepatology, 18 (1), pp. 36-40.
80. Iwao T., Toyonaga A., Ikegami M., et al (1994), “McCormack’s endoscopic signs for diagnosing portal hypertension: comparison with gastroesophageal varices”, Gastrointest Endosc, 40 (4), pp. 470-473.
81. Korula J., Ralls P. (1991), “The effects of chronic endoscopic variceal sclerotherapy on portal pressure in cirrhosis”, Gastroenterology, 101 (3), pp. 800-805.
82. Kumar A., Sharma P., Sarin S.K. (2008), “Hepatic venous pressure gradient measurement: Time to learn”, Indian J Gastroenterol, 27, pp. 74-80.
83. Kuran S., Oguz D., Parlak E., et al (2006), “Secondary prophylaxis of esophageal variceal treatment: endoscopic sclerotherapy, band ligation and combined therapy-long-term results”, Turk J Gastroenterol, 17 (2), pp. 103-109.
84. Laine L., El-Newihi H.M., Migikovsky B., et al (1993), “Endoscopic ligation compared with sclerotherapy for the treatment of bleeding esophageal varices”, Annal of Internal Medicine, 119 (1), pp. 1-7.
85. Lash R.H, Lauwers G.Y, Odze R.D (2009), "Inflammatory disorders of the stomach", Surgical pathology of the GI tract, liver, biliary tract and pancreas, Elsevier, pp. 269-320.
86. Lebrec D., Nouel O., Bernuau J., et al (1981), “Propranolol in the prevention of recurrent gastrointestinal bleeding in cirrhotic patients”, Lancet, 1 (8226), pp. 920-921.
87. Lo G.H., Lai K.H., Cheng J.S., et al (1995), “A prospective, randomized trial of sclerotherapy versus ligation in the management of bleeding esophageal varices”, Hepatology, 22, pp. 466-471.
88. Lo G.H., Liang H.L., Lai K.H., et al (1996), “The impact of endoscopic variceal ligation on the pressure of the portal venous system”, J Hepatol, 24 (1), pp. 74-80.
89. Lo G.H., Lai K.H., Cheng J.S., et al (2000), “Endoscopic variceal ligation plus nadolol and sucralfate compared with ligation alone for the prevention of variceal rebleeding”, Hepatology, 32, pp. 461-465.
90. Lo G.H., Lai K.H., Cheng J.S., et al (2001), “The effect of endoscopic variceal ligation and propranolol on portal hypertensive gastropathy: a prospective, controlled trial”, Gastrointestinal Endoscopy, 53 (6), pp. 579-584.
91. Lo G.H., Chen W.C., Lin C.K., et al (2008), “Improved survival in patients receiving medical therapy as compared with banding ligation for the prevention of esophageal varices rebleeding”, Hepatology, 48, pp. 580-587.
92. Lo G.H., Chen W.C., Chan H.H., et al (2009), “A randomized, controlled trial of band ligation plus drug therapy versus drug therapy alone in the prevention of esophageal variceal rebleeding”, Journal of Gastroenterology and Hepatology, 24, pp. 982-987.
93. Lo G.H. (2009), “Mechanism of portal hypertensive gastropathy: An unresolved issue”, Gastroenterol Hepatol, 24, pp. 1541-1546.
94. Luca A., Feu F., García-Pagan J.C., et al (1994), “Favorable effects of total paracentesis on splanchnic hemodynamics in cirrhotic patients with tense ascites”, Hepatology, 20 (1), pp. 30-33.
95. Luca A., García-Pagan J.C., Bosh J., et al (1997), “Effects of ethanol consumption on hepatic hemodynamics in patients with alcoholic cirrhosis”, Gastroenterology, 112 (4), pp. 1284-1289.
96. Lui H.F., Stanley A.J., Forrest E.H., et al (2002), “Primary prophylaxis of variceal hemorrhage: a randomized controlled trial comparing band ligation, propranolol, and Isosorbide mononitrate”, Gastroenterology, 123 (3), pp. 725-744.
97. Malaysia Society of Gastroenterology and Hepatology (2007), “Management of acute variceal bleeding”, Clinical practice guidelines, pp. 1-25.
98. McCormack T.T., Sims J., Eyre-Brook I., et al (1985), “Gastric lesions in portal hypertension: inflammatory gastritis or congestive gastropathy”, Gut, 26, pp. 1226-1232.
99. McCormick P.A., Senkey E.A., Cardin F., et al (1991), “Congestive gastropathy and Helicobacter pylori: an endoscopic and morphometric study”, Gut, 32, pp. 351-354.
100. Merkel C., Schipilliti M., Bighin R., et al (2003), “Portal hypertension and portal hypertensive gastropathy in patients with liver cirrhosis: a haemodynamic study”, Dig Liver Dis, 35 (4), pp. 269-274.
101. Misra V., Misra SP., Dwivedi M. (1998), “Thickend gastric mucosal capillary wall: a histological marker for portal hypertension”, Pathology, 30, pp. 10-13.
102. Ohta M, Hashisume M., Higashi H., et al (1994), “Portal and gastric mucosal hemodynamics in cirrhotic patients with portal hypertensive gastropathy”, Hepatology, 20 (6), pp. 1432-1436.
103. Orban-Schiopu A.M., Popescu C.R. (2003), “Long term effects of propranolol on portal pressure in cirrhotic patients”, Rom J Gastroenterol, 12 (1), pp. 25-30.
104. Orloff M.J., Orloff M.S., Orloff S.L., Haynes K.S. (1997), “Treatment of bleeding from portal hypertensive gastropathy by portacaval shunt”, Hepatology, 21 (4), pp. 1011-1017.
105. Panes J., Bordas J.M., Piqué J.M., et al (1993), “Effects of propranolol on gastric mucosal perfusion on cirrhotic patients with portal hypertensive gastropathy”, Hepatology, 17 (2), pp. 213-218.
106. Pascal J.P., Cales P. (1987), “Propranolol in the prevention of first upper gastrointestinal tract hemorrhage in patients with cirrhosis of the liver and esophageal varices”, N Engl J Med, 317 (14), pp. 856-861.
107. de la Pena J., Rivero M., Sanchez E., et al (1999), “Variceal ligation compared with endoscopic sclerotherapy for variceal hemorrhage: Prospective randomized trial”, Gastrointest Endosc, 49, pp. 417-423.
108. de la Pena J., Brullet E., Sanchez E., et al (2005), “Variceal ligation plus nadolol compared with ligation for prophylaxis of variceal rebleeding: A multicenter trial”, Hepatology, 41, pp. 572-578.
109. Perez-Ayuso R.M., Piqué J.M., Bosch J., et al (1991), “Propranolol in prevention of recurrent bleeding from severe portal hypertensive gastropathy in cirrhosis”, Lancet, 337 (8755), pp. 1431-1434.
110. Perez-Ayuso R.M., Valderrama S., Espinoza M., et al (2010), “Endoscopic band ligation versus propranolol for the primary prophylaxis of variceal bleeding in cirrhotic patients with high risk esophageal varices”, Annals of Hepatology, 9 (1), pp. 15-22.
111. Pereira-Lima J.C., Zanette M., Lopes C.V. (2003), “The influence of endoscopic variceal ligation on the portal pressure gradient in cirrhotics”, Hepatogastroenterology, 50 (49), pp. 102-106
112. Perini R.F., Camara P., Ferraz J. (2009), “Pathogenesis of portal hypertensive gastropathy: Translating basic research into clinical practice”, Nature clinical practice Gastroenterology and Hepatology, 6 (3), pp. 150-158.
113. Pinzani M., Vizzutti F. (2005), “Anatomy and vascular biology of the cells in the portal circulation”, Portal hypertension, Humuna Press Inc, pp. 15-36.
114. Physicians’ desk reference (2006), “Inderal: Propranolol Hydrochloride”, Thomson PDR, pp. 3421-3423.
115. Poynard T., Cales P., Pasta L., et al (1991), “Beta-Adrenergic Antagonist drug in the prevention of gastrointestinal bleeding in patients with cirrhosis and esophageal varices”, The New England J of Medicine, 324 (22), pp. 1532-1538.
116. Primignani M., Carpinelli L., Preatoni P., et al (2000), “Natural history of portal hypertensive gastropathy in patients with liver cirrhosis. The New Italian Endoscopic Club for the study and treatment of esophageal varices”, Gastroenterology, 119 (1), pp. 181-187.
117. Quintero E., Píque J.M., Bombi J.A., et al (1989), “Gastric mucosal vascular ectasia causing bleeding in cirrhosis. A distinct entity associated with hypergastrinemia and low serum levels of pepsinogen I”, Gastroenterology, 93 (5), pp. 1054-1061.
118. Ravitpati M., Katragadda S., Swaminathan P.D., et al (2009), “Pharmacotherapy plus endoscopic intervention is more effective than pharmacotherapy or endoscopy alone in the secondary prevention of esophageal variceal bleeding: A meta-analysis of randomized, control trials”, Gastrointest Endosc, 70, pp. 658-664.
119. Rigau J., Bosch J., Bordas J.M., et al (1989), “Endoscopic measurement of variceal pressure in cirrhosis: correlation with portal pressure and variceal hemorrhage”, Gastroenterology, 96 (3), pp. 873-880.
120. Rockey D.C. and Friedman S.L. (2006), “Hepatic fibrosis and cirhosis”, Hepatology a text book of liver diseases 5th edition , Elselvier, pp. 86-109
121. Rugge M., Genta R.M. (2011), “Gastritis: The histology report”, Digestive and Liver diseases, 43S, pp. 373-384.
122. Sacchetti C., Capello M., Rebecchi P., et al (1988), “Frequency of upper gastrointestinal lesions in patients with liver cirrhosis”, Dig Dis Sci, 33 (10), pp. 1218-1222.
123. Sarin S.K. (1992), “Factors influencing development of portal hypertensive gastropathy in patients with portal hypertension”, Gastroenterology, 102 (3), pp. 994-999.
124. Sarin S.K., Sreenivas D.V., Lahoti D., Saraya A. (1992), “Prevalence, classification and natural history of gastric varices: a long term follow-up study in 568 portal hypertension patients”, Hepatology, 16 (6), pp. 1343-1349.
125. Sarin S.K., Govil A., Jain A.K., et al (1997), “Prospective randomized trial of endoscopic sclerotherapy versus variceal band ligation for esophageal varices: influence on gastropathy, gastric varices and variceal recurrence”, Gastroenterology, 26 (4), pp. 826-832.
126. Sarin S.K., Lamba G., Kumar M., et al (1999), “Comparison of endoscopic ligation and propranolol for the primary prevention of variceal bleeding”, N Engl J Med, 340 (13), pp. 988-993.
127. Sarin S.K., Jain M., Shahi H.M., et al (2000), “The natural history of portal hypertensive gastropathy: Influence of variceal eradication”, Am J Gastroenterol, 95 (10), pp. 2888-2893.
128. Sarin S.K., Wadhawan M., Agarwal S.R., et al (2005), “Endoscopic variceal ligation plus propranolol versus endoscopic variceal ligation alone in primary prophylaxis of variceal bleeding”, Am J Gastroenterol, 100 (4), pp. 797-804.
129. Sarwar S., Khan A.A., Alam A., et al (2006), “Effect of band ligation on portal hypertensive gastropathy and development of fundal varices”, J Ajub Med Coll Abbotttabad, 18 (1).
130. Sezai S., Ito M., Sakurai Y., et al (1998), “Effects on gastric circulation of treatment for portal hypertension in cirrhosis”, Dig Dis Sci, 43 (6), pp.1302-1306.
131. Schepke M., Kleber G., Nunrberg D., et al (2004), “Ligation versus propranolol for the primary prophylaxis of bleeding in cirrhosis”, Hepatology, 40 (1), pp. 65-72.
132. Schepke M. (2010), “Drugs, ligation or both for the prevention of variceal rebleeding?”, Gut, 58, pp. 1045-1046.
133. Simanjuntak L., Simadibrata M., Gani R.A. (2004), “Pathogenesis in portal hypertensive gastropathy due to liver cirrhosis”, The Indonesian Journal of Gastroenterology Hepatology and Digestive Endoscopy, 5 (3), pp. 95-101.
134. Stiegmann G.V., Goff J.S., Sun J.H., et al (1989), “Endoscopic variceal ligation, an alternative to sclerotherapy”, Gastrointest Endosc, 35, pp. 431-434.
135. Stiegmann G.V., Goff J.S., Michletz-Onody P.A., et al (1992), “Endoscopic sclerotherapy as compared with endoscopic ligation for bleeding esophageal varices”, N Engl J Med, 326, pp. 1527-1532.
136. Tafarel J.R., Tolentino L.H.L., Correa L.M., et al (2011), “Prediction of esophageal varices in hepatic cirrhosis by noninvasive markers”, Europian Journal of Gastroenterology and Hepatology, 23 (9), pp. 754-758.
137. Tanoue K., Hashizume M., Wada H., et al (1992), “Effects of endoscopic injection sclerotherapy on portal hypertensive gastropathy: a prospective study”, Gastrointest Endosc, 38, pp. 382-385.
138. Tarano D., Suozzo R., Romano M., et al (1994), “Gastric endoscopic features in patients with liver cirrhosis: correlation with esophageal varices, intra-variceal pressure, and liver dysfunction”, Digestion, 55 (2), pp. 115-120.
139. Tayama C., Iwao T., Oho K. (1998), “Effect of fundal varices on changes in gastric mucosal hemodynamics after endoscopic variceal ligation”, Journées Francophones de Pathologie Digestive, Paris, France, 30 (1), pp.25-31.
140. Thng C.H., Koh TS., Collin D.J. (2010), “Perfusion magnetic resonance image of the liver”, World J Gastroenterol, 16 (13), pp. 1598-1609.
141. Thuluvat P. J. (2009), “Management of upper gastrointestinal hemorrhage related to portal hypertension”, Atlas of gastroenterology 4th  edition, Wiley-Blackwell, pp. 934-940.
142. Toljamo K. (2012), “Gastric erosions-Clinical significance and pathology, a long-term follow-up study”, Academic Doctoral dissertation, University of Oulu, Finland.
143. Toyonaga A., Iwao T. (1998), “Portal hypertensive gastropathy”, J Gastroenterol Hepatol, 13 (9), pp. 865-877.
144. Triantos C., Vlachogiannakos J., Armonis A., et al (2005), “Primary prophylaxis of variceal bleeding in cirrhotics unable to take beta blocker: a randomized trial of ligation”, Alimant Pharmacol Ther, 21, pp. 1435-1443.
145. Tsugawa K., Hashizumi M, Migou S., et al (2000), “Role of vascular endothelial growth factor in portal hypertensive gastropathy”, Digestion, 61 (2), pp. 98-106.
146. Villanueva C. (2001), “Endoscopic ligation compared with combined treatment with nadolol and isosorbide mononitrate to prevent recurrent variceal bleeding”, N Engl J Med, 345 (9), pp. 647-55.
147. Villanueva C., Minana J., Ortis J., et al (2008), “Current endoscopic therapy of variceal bleeding”, Best Pratice and Research Clinical Gastroenterology, 22 (2), pp. 261-278.
148. Won H.C. (2010), “Portal hypertensive gastropathy and gastric antral vascular ectasia”, Korean J Gastroenterol, 56, pp. 186-191.
149. Wongcharatrawee S., Groszmann R. (2001), “Hemodynamic assessment in clinical practice in portal hypertensive cirrhosis”, Annals of Gastroenterology, 14 (3), pp. 158-165.
150. World Gastroenterology Organisation practice guidelines (2008), Esophageal varices, pp. 1-17.
151. Wright A.S., Rikkers L.F. (2005), “Current management of portal hypertension”, Journal of Gastrointestinal Surgery, 9 (7), pp. 992-1005.
152. Yang M.T., Jeng Y.S., Ko S.T., et al (1995), “Congestive gastropathy in cirrhotic patients: correlation between endoscopic and histological findings”, Gaoxiong Yi Xue Ke Xue Za Zhi, 11 (1), pp. 15-20.
153. Yoshikawa I., Mutara Y., Nakano S., Otsuki M. (1998), “Effects of endoscopic variceal ligation on portal hypertensive gastropathy and gastric mucosal blood flow”, Am J Gastroenterol, 93 (1), pp. 71-74.
154. Yuksel O., Koklu S., Arhan M., et al (2006), “Effects of varice eradication on portal hypertensive gastropathy and fundal varices: A retrospective and comparative study”, Digestive disease and sciences, 51 (1), pp. 27-30.
155. Zain-Hamid R, Ismail Z., Mahendra S. (2003), “The effect of propranolol in Malay patients with liver cirrhosis-a pharmacodynamic evaluation”, Malaysian Journal of Medical Sciences, 10 (1), pp. 65-73.
156. Battaglia G (2000), “Les asperts endoscopiques des l’hypertension portale: diagnostic et classification”, Acta Endoscopica, 30 (5), p. 537-548.
157. SNFGE (2003), “Complications de l’hypertension portale chez l’adulte”, Conférence de consensus sur l’hypertension portale, p. 1-14.

DOWNLOAD LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC : NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ THẮT GIÃN TĨNH MẠCH THỰC QUẢN KẾT HỢP PROPRANOLOL TRONG DỰ PHÒNG XUẤT HUYẾT TÁI PHÁT VÀ TÁC ĐỘNG LÊN BỆNH DẠ DÀY TĂNG ÁP CỬA DO XƠ GAN


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét