Thứ Hai, 18 tháng 5, 2015

TIẾN TRÌNH HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CÁC NƯỚC THUỘC HÀNH LANG KINH TẾ ĐÔNG TÂY (1998 - 2010)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ: TIẾN TRÌNH HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CÁC NƯỚC THUỘC HÀNH LANG KINH TẾ ĐÔNG TÂY (1998 - 2010)


NCS: NGUYỄN HOÀNG HUẾ




MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong thập niên đầu của thế kỷ XXI toàn cầu hoá, khu vực hóa tiếp tục phát triển sâu rộng và tác động tới tất cả các nước. Các quốc gia lớn nhỏ đang tham gia ngày càng tích cực vào quá trình hội nhập quốc tế. Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, phản ánh đòi hỏi bức xúc của các quốc gia, dân tộc trong quá trình phát triển.

Trong xu thế phát triển chung của nhân loại, song song với quá toàn cầu hoá, cạnh tranh mang tính quốc tế vẫn tiếp tục gia tăng không kém phần gay gắt. Đáp lại thực tế mang nhiều thách thức đó, nhiều nước đang phát triển đã nhận thức rằng phải hợp tác với các nước láng giềng của mình để đảm bảo cho các nguồn lực: Tự nhiên, con người, cũng như tiền vốn được sử dụng một cách hiệu quả. Mặt khác, hoạt động mậu dịch, đầu tư cùng nhiều loại hình kinh doanh có xu hướng vượt ra ngoài biên giới quốc gia ngày càng mạnh, đòi hỏi các chính phủ phải tiến hành hợp tác khu vực và hợp tác tiểu vùng để tạo ra môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh.

Trong hoàn cảnh đó, Ngân hàng phát triển Châu Á đã đề xuất sáng kiến Hợp tác Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS) Vào năm 1992. Các nước thành viên của Hợp tác GMS bao gồm 5 nước (Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan, ViệtNam), và hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây, Trung quốc. Hợp tác GMS bao gồm 10 lĩnh vực là: (1) Giao thông tận tải; (2) Năng lượng; (3) Môi trường; (4) Du lịch; (5)

Bưu chính Viễn thông; (6) Thương mại; (7) Đầu tư; (8) Phát triển Nguồn nhân lực; (9) Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và (10) Quản lý nguồn nước [73, tr1].

Tại Hội nghị lần thứ 8 các Bộ trưởng GMS, tổ chức tại Manila (Philippines) tháng 10/1998, có 5 dự án hành lang được đưa ra thảo luận, trong đó hội nghị đã thống nhất ưu tiên thực hiện Hành lang kinh tế Đông tây (EWEC). Hành lang kinh tế Đông Tây là chương trình hợp tác phát triển tổng thể nhằm mục tiêu phát triển liên vùng nghèo bao gồm lãnh thổ lớn kéo dài từ miền Trung Việt Nam lên Trung Hạ Lào, Đông Bắc Thái Lan và đến tận Myanmar.

Sự ra đời của Hành lang kinh tế Đông Tây sẽ đem lại lợi ích thiết thực và lâu dài cho các quốc gia thành viên. Đây là cơ hội cho các quốc gia tiếp cận tốt hơn các nguồn tài nguyên khoáng sản, hải sản và năng lượng phục vụ cho các ngành sản xuất và chế biến; Tạo điều kiện phát triển cho các thành phố, thị trấn nhỏ dọc hành lang đồng thời thúc đẩy thương mại xuyên biên giới; Thu hút đầu tư từ các nguồn địa phương, khu vực và thế giới; Phát triển các hoạt động kinh tế mới thông qua việc sử dụng hiệu quả không gian kinh tế và hình thành khu vực kinh tế xuyên quốc gia; Mở cửa cho hàng hoá của Myanmar, Thái Lan, Lào, Việt Nam và Trung Quốc thâm nhập vào các thị trường đầy tiềm năng của Nam Á, Đông Á, châu Âu và châu Mỹ.

Ngoài ra, hành lang còn là môi trường để thử nghiệm các chính sách kinh tế mới, đặc biệt là ở Myanmar, Việt Nam và Lào. Hành lang kinh tế Đông Tây cũng đã mở ra những cơ hội hợp tác trên nhiều lĩnh vực cho các địa phương thành viên.

Sự ra đời của Hành lang kinh tế Đông Tây bên cạnh xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá và liên kết tiểu vùng thì nguyên nhân cơ bản nhất đó là xuất phát từ nhu cầu phát triển của mỗi nước thành viên. Cả Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Nam đều ủng hộ và hưởng ứng sáng kiến hợp tác EWEC bởi vì tham gia hợp tác và phát triển trong Hành lang kinh tế Đông Tây sẽ giúp cho mỗi nước phát huy được lợi thế của mình đồng thời tranh thủ các điều kiện của các nước láng giềng trong quá trình phát triển nền kinh tế đất nước. EWEC còn có ý nghĩa to lớn về nhiều mặt kinh tế xã hội, hợp tác phát triển và xoá đói giảm nghèo cho các địa phương và các nước thành viên.

Trong số các thành viên của ASEAN, Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Nam là những nước láng giềng gần gũi, có quan hệ gắn bó qua các thời kỳ lịch sử. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và tăng cường hợp tác Tiểu vùng của Việt Nam hiện nay, việc tìm hiểu các mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với các nước láng giềng không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn và có tính thời sự cấp thiết.

Đối với Việt Nam, lưu vực sông Mekong có ý nghĩa chiến lược về kinh tế - xã hội, môi trường, sinh thái và an ninh, quốc phòng. Việt Nam nằm ở vị trí địa lý thuận lợi, là cửa ngõ của các tuyến giao thông quan trọng trong lưu vực sông Mekong. Mục đích cơ bản của những chương trình hợp tác tiểu vùng Mekong phù hợp với chủ trương chính sách về phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Bởi vậy,Việt Nam ủng hộ và tham gia tích cực, là thành viên của hầu hết các chương trình dự án này. Việt Nam đã và đang xúc tiến việc lập kế hoạch tổng thể tham gia tiến trình hợp tác phát triển lưu vực sông Mekong nhằm khai thác cao nhất lợi thế của mình trong khu vực, thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của các chương trình này. Việt Nam đã tham gia hợp tác tiểu vùng GMS kể từ khi Sáng kiến GMS được khởi xướng từ năm 1992. Việt Nam cũng là nước tích cực tham gia hợp tác trên EWEC.

Kể từ khi chương trình hợp tác Hành lang kinh tế Đông Tây được hình thành cho đến năm 2010, đã nhận được sự quan tâm của chính phủ các nước, các nhà tài trợ quốc tế, đặc biệt là Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) Và Chính phủ

Nhật Bản; Sự quan tâm của các địa phương trên tuyến hành lang, của cộng đồng doanh nghiệp và hàng chục triệu người dân trong vùng EWEC. Nhiều hoạt động cụ thể, thiết thực đã được triển khai để hiện thực hóa những ý tưởng và mục tiêu tốt đẹp của Hành lang kinh tế Đông Tây. Những hoạt động đó đã đưa lại những kết quả rất đáng ghi nhận cho quá trình phát triển của EWEC như: Một số cơ chế hợp tác đã được hình thành, một số dự án hỗ trợ đã được triển khai, và nhiều sự kiện liên quan đến Hành lang kinh tế Đông Tây đã được tổ chức, tiêu biểu như sự kiện Tuần lễ EWEC 2007 tại Đà Nẵng, do Bộ Ngoại giao Việt Nam và UBND thành phố Đà Nẵng đồng chủ trì với chủ đề “Hành lang hữu nghị và hợp tác kinh tế: Từ ý tưởng đến hiện thực”, đã góp phần nâng cao nhận thức và hành động của các nhà tài trợ quốc tế, của chính phủ các nước, các địa phương và cộng đồng doanh nghiệp trên hành lang về những cơ hội phát triển của Hành lang kinh tế Đông Tây. Song song với điều kiện hạ tầng cứng của hành lang như: Giao thông, viễn thông, năng lượng, tiếp tục được nâng cấp, hạ tầng mềm với các chính sách nhằm tạo điều kiện thông thoáng về thủ tục cho sự lưu thông của người và hàng hóa đã được chính phủ các nước quan tâm cải tiến. Các nhà tài trợ đã có những hỗ trợ tích cực, hiệu quả. Các địa phương dọc trên tuyến hành lang đã tích cực cải thiện môi trường kinh doanh để thu hút đầu tư, thúc đẩy hợp tác, tạo sự liên kết kinh tế - văn hóa… Các doanh nghiệp đã năng động tìm kiếm các cơ hội đầu tư, góp phần biến những tiềm năng thành lợi ích kinh tế thực sự…

Quá trình hình thành và phát triển Hành lang kinh tế Đông Tây từ năm 1998 đến nay đã đạt được những thành tựu bước đầu và có tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế, xã hội của các nước và các địa phương dọc theo hành lang. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, sự hợp tác giữa các nước nằm dọc Hành lang còn gặp phải những khó khăn hạn chế cần khắc phục và tháo gỡ nhằm thúc đẩy sự hợp tác giữa các nước EWEC lên tầm cao mới.

Từ những vấn đề trình bày trên, chúng tôi chọn đề tài: “Tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010)” làm đề tài cho luận án tiến sĩ thuộc Chuyên ngành Lịch sử thế giới, Mã số 62.22.03.11.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Sự ra đời và phát triển của EWEC không chỉ nhận được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo các nước trong vùng, các đối tác lớn của khu vực và thế giới mà còn của các nhà nghiên cứu. Vấn đề: “Tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc

Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010)” đã và đang thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều học giả đến từ nhiều quốc gia và tổ chức khác nhau trên thế giới, đặc biệt là các nhà nghiên cứu đến từ các nước thuộc Tiểu vùng Mekong mở rộng, Nhật Bản và Ngân hàng Phát triển Châu Á. Có thể kể ra một số công trình như: “East-West Economic Corridor (EWEC) Strategy and Action Plan, Development Study of the EastWest Economic Corridor Greater Mekong Subregion” do ADB phát hành năm 2009 nghiên cứu về những cơ sở, tầm nhìn chiến lược và thành tựu của hợp tác trên EWEC trong giai đoạn 2001 - 2008; Phân tích thực trạng hợp tác EWEC trên các lĩnh vực: thương mại, đầu tư, khu vực tư nhân, xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi truờng. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đề ra các giải pháp để thúc đẩy hợp tác EWEC; “Strategy and Action Plan for the Greater Mekong Subregion East - West Economic Corridor” do ADB phát hành năm 2010 nghiên cứu về tầm quan trọng và giá trị kinh tế - xã hội khi hành lang kinh tế Đông Tây được hoàn thành và sự thay đổi trong các chiến lược và kế hoạch hành động qua hai giai đoạn: 1998 - 2001,2001 - 2008 và triển vọng của EWEC; “The East-West Economic Corridor Project in Thailand: Perceived Meanings and Expectations” của Yaowalak Apichatvullop Panadda Phucharoensilp, Đại học Khon Kaen, Thái Lan năm 2007, đề cập đến các vần đề như ý nghĩa và giá trị của hành lang kinh tế Đông Tây đối với các nước và các địa phương trên EWEC; Qua nghiên cứu các dữ liệu được thu thập từ ba nhóm đối tượng: Các tổ chức địa phương, các doanh nghiệp tư nhân và người dân địa phương tác giả đã đưa ra những đánh giá tác động từ sự phát triển của EWEC đến các lĩnh vực kinh tế - xã hội của các bên liên quan; Gợi ý những chính sách để tăng cường kết quả hợp tác của các địa phương trên EWEC; “Strategy and Action Plan to Encourage Tourists to Stay Longer and Spend More on the East West Economic Corridor Savannakhet” của Lee Sheridan năm 2009 đề cập đến tác động của EWEC đến sự phát triển du lịch bền vững của tỉnh Savannakhet (Lào); Các lựa chọn chiến lược khuyến khích khách du lịch ở lại lâu hơn và chi tiêu nhiều hơn khi đến Savannakhet; các giải pháp để đạt được mục tiêu chiến lược của ngành du lịch tỉnh Savannakhet trên EWEC; “Special Economic Zones and Economic Corridors” của Masami Ishida năm 2009 phản ánh sự khác nhau giữa các hành lang kinh tế và khu kinh tế đặc biệt trong GMS. Đặc biệt nhấn mạnh vai trò và chiến lược phát triển các khu kinh tế đặc biệt của 4 nước Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam; “Planning Framework for International Freight Transportation Infrastructure: A Case Study on the East-West Economic Corridor in the Greater Mekong Subregion” của Toshinori Nemoto, Đại học Hitotsubashi, Nhật Bản năm 2009 đề cập đến khung kế hoạch cho vận tải quốc tế và cơ sở hạ tầng của GMS từ những nghiên cứu về Hành lang kinh tế Đông Tây thông qua các hoạt động vận chuyển quốc tế, hậu cần, nhu cầu hợp tác, lợi ích của các nước thành viên...

Trên thực tế, từ năm 1998 đến nay còn có nhiều tài liệu đã được ADB, các nước thành viên EWEC, các nhà tài trợ, các nhà tư vấn, các nhà nghiên cứu đã chuẩn bị và cung cấp nhiều tài liệu quý báu về Tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc EWEC tại các hội thảo quốc tế về Hợp tác kinh tế EWEC tổ chức ở nhiều nơi trên thế giới, nhất là ở các nước và các địa phương thuộc EWEC như các Hội thảo quốc tế do ADB tổ chức tại Nhật Bản, Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan...

Tuy nhiên các nghiên cứu đã được công bố chủ yếu là của các cơ quan của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), hoặc là của chính phủ Nhật Bản hay các nước thành viên EWEC và các nước khác tập trung nhiều nhất vào việc đánh giá việc triển khai các chương trình dự án, kết quả hợp tác của các địa phương và các nước thuộc EWEC. Trong khi các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nhất là nghiên cứu dưới góc độ Sử học không nhiều nếu không muốn nói là rất ít. Hơn nữa những kết quả nghiên cứu này chủ yếu là những bài nghiên cứu được công bố trong các hội thảo khoa học trong nước hoặc quốc tế về hợp tác Hành lang kinh tế Đông Tây.

Như đã trình bày ở trên, số lượng các công trình nghiên cứu chuyên khảo và dưới góc độ Sử học về “Tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010)” không nhiều nhưng nhìn chung các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đều tập trung phản ánh sự cần thiết, lợi ích, sự hưởng ứng và lợi thế của các địa phương và các quốc gia khi tham gia các dự án hợp tác trên EWEC. Một số công trình phản ánh kết quả hợp tác và tác động của EWEC tới sự phát triển của các nước và các địa phương trên EWEC. Tuy nhiên những công trình này chỉ phản ánh một phần nhỏ, một thời gian ngắn hay một địa phương, một quốc gia trên EWEC và chưa phản ánh đầy đủ tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây trong giai đoạn: 1998 - 2010. Mặc dù vậy, những công trình này rất có giá trị đối với Luận án, vì đây là những tài liệu tham khảo rất quan trọng để đánh giá tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây trong giai đoạn nghiên cứu.

2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Cho đến nay, “Tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010)” đã được các nhà nghiên cứu đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau. Có thể tìm thấy nội dung về Hành lang kinh tế Đông Tây trong các công trình nghiên cứu đã được công bố.

2.2.1. Các công trình nghiên cứu về ASEAN và sự hợp tác của các quốc gia ASEAN

Các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Nguyễn Quốc Lộc - Nguyễn Công Khanh - Đoàn Thanh Hương (2004), Tổng quan về ASEAN và tiềm năng Thành phố Hồ Chí Minh trong tiến trình hội nhập, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh; Hoài Nguyên (2008), Lào - đất nước và con người, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế; Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Ban Tuyên huấn Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (2012), Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930 -2007), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; Võ Thanh Thu (2008), Quan hệ kinh tế quốc tế, NXB Thống Kê, Hà Nội; Nguyễn Duy Dũng (chủ biên) (2010), Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia từ lý thuyết đến thực tiễn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; Hoàng Thị Minh Hoa (chủ biên) (2010), Nhật Bản với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, Lào và Campuchia trong giai đoạn hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Thị Thúy Hồng (2008), Kinh tế các nước ASEAN, NXB Giáo dục, Hà Nội...

Trong các công trình nghiên cứu này, tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010) Được đề cập đến không nhiều, chủ yếu là những nghiên cứu về hợp tác kinh tế giữa từng nước trong hành lang với nhau.

Tuy nhiên, khi tìm hiểu nhóm công trình này có thể giúp cho các nhà nghiên cứu những tư liệu có ích về quá trình hình thành và phát triển của Hành lang kinh tế Đông Tây và các nhân tố tác động tới quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010).

2.2.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về hợp tác Tiểu vùng Mekong mở rộng

Nhóm các công trình nghiên cứu về hợp tác Tiểu vùng Mekong mở rộng có thể kể đến một loạt công trình nghiên cứu như: Các công trình nghiên cứu của Nguyễn Trần Quế: “Sông và tiểu vùng Mê Kông tiềm năng và hợp tác phát triển quốc tế”,Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001; “Hợp tác tiểu vùng Mekong mở rộng trong điều kiện mới”, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ (2007), Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới; “Hợp tác phát triển tiểu vùng Mê Kông mở rộng hiện tại và tương lai”,Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007. Những nghiên cứu này đề cập tới cơ chế, mục tiêu, phương thức hoạt động, những kết quả chủ yếu, những vấn đề tồn tại và khó khăn của hợp tác GMS từ khi hình thành đến năm 2006. Phân tích những điều kiện mới của hợp tác GMS. Đồng thời khái quát quá trình tham gia hợp tác, quan điểm và những định hướng để nâng cao hiệu quả hợp tác của Việt Nam trong GMS; Công trình nghiên cứu của Nguyễn Hồng Nhung, “Vai trò của chính quyền địa phương trong hợp tác Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng”, Sách chuyên khảo,Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới, 2011, đã phân tích vai trò và hoạt động của chính quyền địa phương, từ đó đánh giá và đề ra các giải pháp phát huy vai trò của chính quyền địa phương trong việc thực hiện các cam kết quốc gia trong khung khổ hợp tác Tiểu vùng sông Mekong mở rộng trong tương lai...

Trong nhóm này phải kể đến một số lượng không nhỏ các bài nghiên cứu được công bố trên các tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí Lịch sử Đảng, tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á, tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, tạp chí Sự kiện và nhân chứng, tạp chí nghiên cứu lịch sử, tạp chí nghiên cứu quốc tế…. Có thể kể đến một loạt các công trình của các tác giả như: Nguyễn Xuân Thắng, “Hợp tác Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng: Các sáng kiến, sự tiến triển và những lựa chọn ưu tiên”, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 12,2005, trên cơ sở phân tích các sáng kiến, sự tiến triển, thành tựu chủ yếu và các vấn đề đặt ra trong hợp tác GMS, tác giả đánh giá triển vọng và những lựa chọn ưu tiên trên con đường tiến tới sự phát triển bền vững của GMS; Trần Cao Thành, “Tiểu vùng Mê Công: Một số nét khái quát và đặc điểm”, tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 6,2006, đề cập khái quát các vấn đề: Vị trí địa lý, nguồn nhân lực, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và môi trường tự nhiên của các nước thuộc tiểu vùng sông Mekong mở rộng; Phạm Thái Quốc, “Hợp tác GMS và tác động của nó đến phát triển kinh tế miền Trung Việt Nam”, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 10,2006, đề cập khái quát về hợp tác GMS, trên cơ sở các điều kiện, lợi thế, một số dự án, chương trình trong GMS giai đoạn 1990 - 2008, tác giả đánh giá những tác động của hợp tác GMS đến sự phát triển kinh tế của miền Trung Việt Nam; Nguyễn Hồng Nhung, “Việt Nam trong hợp tác Tiểu vùng Mê Kông mở rộng”, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 5,2007, đề cập đến tầm quan trọng của hợp tác GMS đối với Việt Nam, quan điểm, hoạt động, kết quả hợp tác và những vấn đề đặt ra trong quá trình hợp tác của Việt Nam trong GMS...

Nhìn chung các công trình nghiên cứu thuộc nhóm này đã phản ánh được sự cần thiết, nhu cầu, các chủ trương, chính sách và quá trình hợp tác của các nước và các địa phương trong Tiểu vùng Mekong mở rộng.

Tuy nhiên, trong các công trình này vấn đề tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây được đề cập đến không nhiều và không được hệ thống trong cả một giai đoạn (1998 - 2010).

2.2.3. Nhóm các công trình nghiên cứu về Hành lang kinh tế Đông Tây

Đã có nhiều công trình có tính chất chuyên khảo của các tác giả đề cập tới quan hệ kinh tế giữa các nước trong Hành lang kinh tế Đông Tây như: Nguyễn Xuân Thắng, “Hành lang kinh tế và Hành lang kinh tế Đông - Tây: Một số đề xuất về giải pháp phát triển”, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 5,2006, đề cập đến những vấn đề lý luận về hành lang kinh tế, đặc điểm, chiều hướng phát triển và đề xuất những giải pháp phát triển Hành lang kinh tế Đông - Tây; Lê Hữu Phúc, “Vai trò của tỉnh Quảng Trị đối với việc xây dựng và phát triển hành lang kinh tế Đông - Tây”, Tạp chí Đông Nam Á, số 11,2008, đề cập đến vị trí, vai trò, sự hưởng ứng, một số đề xuất, kiến nghị của tỉnh Quảng Trị đối với việc xây dựng và phát triển Hành lang kinh tế Đông Tây; Trần Văn Minh, “Vai trò của thành phố Đà Nẵng với việc xây dựng và phát triển tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây”, Tạp chí Đông Nam Á, số 11,2008, đề cập tới lợi ích của EWEC, vị trí, vai trò, kết qủa hợp tác, các giải pháp để tăng cường hiệu quả hợp tác của thành phố Đà Nẵng trên Hành lang kinh tế Đông Tây; Nguyễn Hoàng Giáp, Mai Hoàng Anh, “Quan điểm và đối sách của Việt Nam về hành lang kinh tế Đông -Tây”, Tạp chí Đông Nam Á, số 11,2008, đề cập khái quát về EWEC, các quan điểm, chính sách của Việt Nam về phát triển Hành lang kinh tế Đông Tây, những trở ngại và khuyến nghị để phát huy hơn nữa vai trò và vị thế của Việt Nam trên Hành lang kinh tế Đông Tây; Trương Duy Hoà, “Hành lang kinh tế Đông - Tây và tác động của nó đến Lào và quan hệ Việt - Lào”,Tạp chí Đông Nam Á, số 11,2008, đề cập khái quát về Hành lang kinh tế Đông Tây và tác động của nó đến Lào và quan hệ Việt Nam - Lào trong bối cảnh liên kết khu vực và quốc tế hiện nay...

Đặc biệt các bài nghiên cứu trong các Kỷ yếu Hội thảo khoa học phản ánh một cách rõ nét các vấn đề lên quan đến quan hệ kinh tế giữa các nước trong Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010) Như: Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Du lịch Quảng Trị - hội nhập và phát triển” do Tổng cục du lịch Việt Nam và UBND tỉnh Quảng Trị đồng tổ chức năm 2007, đề cập đến tiềm năng du lịch của các quốc gia và các địa phương nằm dọc EWEC, cơ hội và thách thức cho ngành du lịch Quảng Trị trước ngưỡng cửa hội nhập quốc tế cũng như cơ hội hợp tác về du lịch, thương mại của các quốc gia tiểu vùng sông Mekong và các quốc gia nằm trên trục đường xuyên Á; Kỷ yếu Hội thảo “Nhu cầu khách du lịch trên tuyến hành lang Đông Tây - Cơ hội cho các địa phương” do Khoa Du lịch - Đại học Huế và tổ chức phát triển Hà Lan Bắc miền Trung (SNV) Về nghiên cứu nhu cầu khách du lịch tại các tỉnh dọc tuyến Hành lang kinh tế Đông Tây đồng tổ chức năm 2008, đề cập đến nhu cầu khách du lịch, các cơ hội thị trường và gợi mở cho việc hoạch định chính sách kinh doanh và phát triển du lịch của các địa phương cho các địa phương dọc tuyến Hành lang kinh tế Đông Tây; Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Hợp tác phát triển du lịch giữa các tỉnh Bắc miền Trung Việt Nam với Lào và Thái Lan” do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thừa Thiên Huế phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh Quảng Trị,Quảng Bình tổ chức (2010). Nội dung của Hội thảo đề cập đến thực trạng hợp tác, sự cấn thiết phải có sự hợp tác của lãnh đạo các địa phương, các ngành nhất là ngành du lịch của ba nước Việt Nam, Lào, Thái Lan về chính sách, giải pháp nhằm đầu tư xây dựng các sản phẩm, các loại hình dịch vụ, các phương tiện, vật chất, kỹ thuật, cách thức hỗ trợ các doanh nghiệp để mở văn phòng, liên doanh khai thác khách du lịch, đề ra các kế hoạch liên kết chặt chẽ để phát triển nhanh, mạnh và bền vững.

Đồng thời các bài nghiên cứu cũng khẳng định vị thế du lịch trong cơ cấu ngành kinh tế quan trọng của các địa phương trong mạng lưới du lịch trên EWEC....

Trong các bài viết của các nhà lãnh đạo các nước Việt Nam, Lào, Thái Lan,Myanmar cũng đề cập tới quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây. Đây là những cơ sở để nghiên cứu, đánh giá sự hưởng ứng và tham gia hợp tác của các nước và các địa phương nằm dọc EWEC.

Nhìn chung, ưu điểm nổi bật của các công trình này là trình bày tập trung mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 2010). Tuy vậy, hạn chế của các bài nghiên cứu là thiếu tính toàn diện, khái quát và theo tiến trình từ năm 1998 đến năm 2010.

Có thể nói, cho đến năm 2010 chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây dưới góc độ Sử học một cách tổng thể, toàn diện, có luận cứ khoa học sâu sắc.

Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, luận án nghiên cứu về tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây trong giai đoạn 1998 - 2010 một cách tổng thể, toàn diện, có luận cứ khoa học sâu sắc để đưa ra các gợi ý chính sách cho các nước thuộc EWEC nói riêng, GMS nói chung và nhất là gợi mở chính sách cho chính phủ Việt Nam nhằm thúc đẩy và tăng cường hiệu quả hợp tác trên Hành lang kinh tế Đông Tây.

3. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu t hợp với các phương pháp liên ngành, đề tài sẽ phản ánh tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế

Đông Tây từ năm 1998 đến năm 2010 đi từ cơ sở hình thành, thực trạng hợp tác đến tác động của tiến trình này đối với các chủ thể, các cơ chế hợp tác khác và bước đầu dự báo triển vọng của hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây trong thời gian tới.
----------------------------------------------------Luận án tiến sĩ lịch sử gồm gần 200Tr với nội dung như sau:

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
3. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu và nguồn tư liệu
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6. Đóng góp của luận án
7. Bố cục của luận án
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ CỦA HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CÁC NƯỚC THUỘC HÀNH LANG KINH TẾ ĐÔNG TÂY
1.1. Một số cơ sở lý thuyết về quan hệ kinh tế quốc tế
1.1.1. Khái niệm về hợp tác và hội nhập kinh tế khu vực
1.1.2. Lý thuyết về lợi thế so sánh
1.1.3. Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của quốc gia
1.1.4. Thuyết tự do thương mại
1.1.5. Thuyết bảo hộ mậu dịch
1.1.6. Khái niệm “hành lang kinh tế”
1.2. Khái niệm “Hành lang kinh tế Đông Tây”
1.3. Bối cảnh quốc tế và khu vực
1.4. Khái quát hợp tác kinh tế giữa Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Nam trướcnăm 1998
1.5. Sáng kiến của Ngân hàng Phát triển châu Á và Nhật Bản
1.5.1. Vai trò của Ngân hàng Phát triển châu Á
1.5.2. Vai trò của Nhật Bản
1.6. Đặc điểm của Hành lang kinh tế Đông Tây
CHƯƠNG 2. SỰ TIẾN TRIỂN CỦA CÁC LĨNH VỰC HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CÁC NƯỚC THUỘC HÀNH LANG KINH TẾ ĐÔNG TÂY (1998 - 2010)
2.1. Nguyên tắc hợp tác và cơ chế hoạt động của Hành lang kinh tế Đông Tây
2.2. Hợp tác đầu tư giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây
2.2.1. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
2.2.2. Đầu tư xây dựng các khu kinh tế
2.2.3. Thu hút đầu tư của các nước và các địa phương thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây
2.3. Hợp tác thương mại
2.4. Hợp tác trong lĩnh vực giao thông vận tải và du lịch
2.4.1. Hợp tác trong lĩnh vực giao thông vận tải
2.4.2. Hợp tác trong lĩnh vực du lịch
2.5. Hợp tác trong các lĩnh vực khác
2.5.1. Hợp tác nông và công nghiệp
2.5.2. Hợp tác năng lượng
2.5.3. Hợp tác xóa đói giảm nghèo và phát triển nông thôn
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ TIẾN TRÌNH HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CÁC NƯỚC THUỘC HÀNH LANG KINH TẾ ĐÔNG TÂY (1998 - 2010)
3.1. Tác động của tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây
3.1.1. Tác động đối với các nước thành viên
3.1.1.1. Tác động đối với Myanmar
3.1.1.2. Tác động đối với Thái Lan
3.1.1.3. Tác động đối với Lào
3.1.1.4. Tác động đối với Việt Nam
3.1.2. Tác động đối với hợp tác Tiểu vùng Mekong mở rộng
3.1.3. Tác động đối với hợp tác ASEAN
3.2. Những thành tựu và hạn chế
3.2.1. Thành tựu
3.2.2. Hạn chế và nguyên nhân
3.3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây
3.4. Các gợi mở chính sách tham gia của Việt Nam trong hợp tác kinh tế Hànhlang kinh tế Đông Tây
3.4.1. Đóng góp của Việt Nam trong tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010)
3.4.2. Các gợi mở chính sách cho Việt Nam
3.5. Triển vọng của hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

1 ACMECS Ayeyawady - Chao Phraya – Mekong Economic Cooperation Strategy Chiến lược hợp tác kinh tế Ayayewady - Chao Phraya Mekong
2 ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển châu Á
3 AEC ASEAN Economic Community Cộng đồng kinh tế ASEAN
4 AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
5 APEC Asia - Pacific Economic Cooperation Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
6 ASEAN Association of Southeast Asian Nations Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
7 ASEAN-METI Association of Southeast Asian NationsMinister for Economy, Trade and Industry Ủy ban hợp tác kinh tế và côngnghiệp ASEAN
8 CBTA Cross Border Transport Agreement Hiệp định vận tải qua biên giới
9 EWEC East West Economic Corridor Hành lang kinh tế Đông Tây
10 EU European Union Liên minh Châu Âu
11 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
12 GMS Greater Mekong SubregionTiểu vùng Mekong mở rộng
13 GMS BF Greater Mekong Subregion Business Forum Diễn đàn doanh nghiệp Tiểuvùng Mekong mở rộng
14 GMS-CBTA Greater Mekong Subregion - Cross Border Transport Agreement Hiệp định vận tải qua biên giớicủa các nước Tiểu vùng sông Mekong mở rộng
15 GSP Generalized System of Preferences Hệ thống ưu đãi phổ cập
16 IMF International Monetary FundQuỹ Tiền tệ Quốc tế
17 JBIC Japan Bank for International Cooperation Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản
18 JETRO Japan External Trade Organization Tổ chức ngoại thương Nhật Bản
19 JICA Japan International Cooperation Agency Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
20 KKTTMĐB - Khu kinh tế - thương mại đặc biệt
21 KKTTMĐBLB Khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo
22 NAFTA North America Free Trade Agreement Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ
23 NSEC North - South Economic Corridor Hành lang kinh tế Bắc - Nam
24 ODA Official Development Assistance Viện trợ phát triển chính thức
25 RFID Radio Frequency Identification Thẻ kiểm tra đối tượng bằngsóng vô tuyến
26 SEC South Economic Corridor Hành lang kinh tế phía Nam
27 SOM EWEC Senior Officials Meeting East West Economic Corridor Hội nghị cấp cao EWEC
28 TNHH - Trách nhiệm hữu hạn
29 TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
30 TTXVN - Thông tấn xã Việt Nam
31 UBND - Uỷ ban nhân dân
32 UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural Organization Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc
33 WB World Bank Ngân hàng thế giới
34 WTC World Trade Center Trung tâm thương mại quốc tế
35 WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
36 XNK - Xuất nhập khẩu
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Tỉ trọng thương mại của các nước EWEC với Nhật Bản
Bảng 1.2: Thông tin về các tỉnh, thành phố thuộc EWEC
Bảng 2.1: Các chỉ số vĩ mô và xã hội của các nước EWEC, giai đoạn 2000 - 2005
Bảng 2.2: Nguồn vốn phân bổ cho các lĩnh vực hợp tác ưu tiên của GMS (1992 - 2007)
Bảng 2.3: Kết quả thu hút đầu tư vào KKTTMĐBLB qua các năm: 2000 - 2010
Bảng 2.4: Xuất khẩu qua biên giới trên EWEC (2002-2008)
Bảng 2.5: Tốc độ tăng trưởng xuất, nhập khẩu (%/ năm) Của các nước thành viên EWEC
Bảng 2.6: Hành lang kinh tế Đông Tây tại các nước trên tuyến
Bảng 2.7: Tổng số người xuất nhập cảnh qua cửa khẩu Lao Bảo (2001 - 2010)
Bảng 2.8: Lượng khách du lịch quốc tế vào các nước EWEC
Bảng 2.9: Nguồn vốn vay cho lĩnh vực năng lượng của các nước EWEC
Bảng 3.1: Tỷ lệ % của các ngành CN-XD và dịch vụ trong GDP của Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế và Quảng Trị
Bảng 3.2: So sánh thủ tục hải quan hiện nay của các quốc gia EWEC và Singapore

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Hành lang kinh tế Đông Tây
Hình 1.2: Vị trí của Hành lang kinh tế Đông Tây
Hình 2.1: Các nhà tài trợ nguồn tài chính cho xây dựng cơ sở hạ tầng giao thôngcủa EWEC
Hình 2.2: Các dự án giao thông vận tải trên EWEC
Hình 2.3: Thành phố Khon Kaen và các thị trấn lân cận trên EWEC
Hình 3.1: Tốc độ tăng GDP/ ng của các tỉnh phía Việt Nam và Việt Nam

 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

1. Nguyễn Hoàng Huế (2010) (viết chung), Vai trò của Việt Nam trong quan hệ hợp tác kinh tế với Lào và Campuchia trong những năm đầu thế kỷ XXI, in trong sách chuyên khảo: Tam giác phát triển Việt Nam – Lào – Campuchia từ lý thuyết đến thực tiễn, Viện nghiên cứu Đông Nam Á.
2. Nguyễn Hoàng Huế (2010) (viết chung), Nhìn lại quá trình hợp tác của các nước nằm trong hành lang kinh tế Đông Tây (1998 – 2009), Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 5, tr18-26.
3. Nguyễn Hoàng Huế (2011) (viết chung), Nhìn lại quan hệ kinh tế Việt Lào thập niên đầu của thế kỷ XXI, Kỷ yếu hội thảo quốc tế: Quan hệ Việt Nam – ASEAN – TAIWAN, ĐH Khoa Học Huế.
4. Dr. Nguyen Van Tan, MA Nguyen Hoang Hue (2012), Strengthen Cooperation in East West Corridor Economic Development Motivate Central Provinces Economic, The Fifth SNRU International Conference on Cooperation for Development on the East – West Economic Corridor: Cooperation Networks for Sustainable Development towards ASEAN Community, Sakon Nakhon Rajabhat University, Thailand.
5. Nguyễn Hoàng Huế (2013) (viết chung), Vai trò của Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo trên tuyến hành lang kinh tế Đông – Tây, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 4.
6. MA Nguyen Duy Hoi, MA Nguyen Hoang Hue (2013), Viet Nam Central Provinces ‘ Role in the East West Economic Corridor, The Sixth SNRU International Conference on Cooperation for Development on the East – West Economic Corridor: Strategic Development for ASEAN Community, Sakon Nakhon Rajabhat University, Thailand.
7. MA Nguyen Hoang Hue (2013), Role of Lao Bao Specially Commercial Economic Zone on the EWEC, The Sixth SNRU International Conference on Cooperation for Development on the East – West Economic Corridor: Strategic Development for ASEAN Community, Sakon Nakhon Rajabhat University, Thailand. 155TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Minh Anh (2009), Không ngừng thúc đẩy mối quan hệ Việt Nam-Thái Lan, ngày truy cập 19.7.2013, cpv. org. vn/cpv/Modules/News/NewsDetail. aspx? co_id=30093&cn_id=349585
2. Huỳng Phương Anh (2010), Những yếu tố dẫn tới sự thay đổi chính sách của Nhật Bản đối với Tiểu vùng MeKong, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế: Nhật Bản và các nước tiểu vùng Mekong-mối quan hệ lịch sử, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh, tr155-165.
3. Nguyễn Bá Ân (2010), Về định hướng phát triển Hành lang Kinh tế Đông Tây trong tổng thể quy hoạch phát triển vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Miền Trung, Hành lang Kinh tế Đông-Tây, UBND tỉnh Quảng Trị-Bộ ngoại giao-Báo Thế giới & Việt Nam, Đông Hà, tr28-31.
4. Ban thư ký ASEAN (1995), Triển vọng kinh tế vĩ mô của ASEAN, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
5. Ngô Xuân Bình (chủ biên) (2000), Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ sau chiến tranh lạnh, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
6. Bùi Quang Bình (2010), Hành lang Kinh tế Đông-Tây phía Việt Nam những bất cập và kiến nghị, Hành lang Kinh tế Đông-Tây, UBND tỉnh Quảng Trị Bộ ngoại giao-Báo Thế giới & Việt Nam, Đông Hà, tr36-41.
7. Nguyễn Văn Bình (2013), Khu Kinh tế-Thương mại đặc biệt Lao Bảo phát triển kinh tế, thương mại vùng biên giới, Tin tức sự kiện, BQL KKT tỉnh Quảng Trị, ngày 06/02.
8. Trương Văn Bính (2008), Những nhân tố tác động đến quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh Nghệ An-Xiêng Khoảng thời kỳ 1975-2005, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 9, Tr. 44-58.
9. Bộ ngoại giao (1998), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
10. Cảng Đà Nẵng (2011), Truyền thống cảng Đà Nẵng, Nhà xuất bản Đà Nẵng, Đà Nẵng. 156
11. Chanvit Vasayangkura (2010), Tầm quan trọng của EWEC trong mối liên hệ với sự phát triển kinh tế của tỉnh Mukdahan, Hành lang Kinh tế Đông-Tây, UBND tỉnh Quảng Trị-Bộ ngoại giao-Báo Thế giới & Việt Nam, Đông Hà, tr12-13.
12. Văn Hữu Chiến (2010), Kiến nghị chính sách để nâng cấp đồng bộ cơ sở hạ tầng Hành lang Kinh tế Đông-Tây, Hành lang Kinh tế Đông-Tây, UBND tỉnh Quảng Trị-Bộ ngoại giao-Báo Thế giới & Việt Nam, Đông Hà, tr16-19.
13. Chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư của Khu Kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo, ngày truy cập 02/01/2013, quangtrisme. vn/bizcenter/0/news/11/163
14. Lê Đình Chỉnh (2000), “Hồ Chí Minh với quan hệ đặc biệt Việt-Lào”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 41, tr80.
15. Lê Đình Chỉnh (2009), Vài nét về quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam-Lào trong thời kỳ đổi mới 1986-2000, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6, Tr. 36-39.
16. Clive J. Christie (2000), Lịch sử Đông Nam Á hiện đại, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
17. Nguyễn Văn Cường (2007), Hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với Lào và Campuchia (1991-2006), Luận văn thạc sĩ sử học, Đại học sư phạm Huế, Huế.
18. Trần Ngọc Danh (1999), Bác Hồ ở Thái Lan, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.
19. D. G. E. Hall (1997), Lịch sử Đông Nam Á, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
20. Nguyễn Ngọc Dung (2002), Sự hình thành chủ nghĩa khu vực ASEAN, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.
21. Nguyễn Duy Dũng (2001), Xu hướng đầu tư và ODA của Nhật Bản thập niên đầu thế kỷ XXI, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 3, tr15-22.
22. Nguyễn Duy Dũng-Nguyễn Ngọc Hà (2010), Sự phát triển của Tiểu vùng sông Mê Công (GMS) và vai trò của Nhật Bản, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 11, tr39-47.
23. Nguyễn Duy Dũng (2009), Cửa khẩu Bờ Y-khu kinh tế động lực trong tam giác phát triển Việt Nam-Lào-Campuchia, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 8, Tr. 25-31.157
24. Thái Thị Ngọc Dư (1993), Địa lý các nước Đông Nam Á, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.
25. Ánh Dương (2007), “Hành lang kinh tế Đông Tây: lợi thế và rào cản”, Báo Đà Nẵng, số ra ngày 19/10, tr4.
26. Phạm Đức Dương (2004), “Hợp tác nghiên cứu lối sống-văn hóa trong tiểu vùng sông Mê Công”, Kỷ yếu hội thảo khoa học: “Quan hệ Việt Nam-Lào: Hiện trạng và triển vọng”, Viện KHXH Việt Nam, Viện Đông Nam Á, Viêng Chăn.
27. Phạm Đức Dương, Phạm Thanh Tịnh (2009), Văn hoá sông Hồng và sông Mekong, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 8, Tr. 3-12.
28. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
29. Đỗ Đức Định (chủ biên) (2003), Kinh tế đối ngoại xu hướng điều chỉnh chính sách ở một số nước châu Á trong bối cảnh toàn cấu hóa và tự do hóa, NXB Thế giới, Hà Nội.
30. Đỗ Đức Định (2005), Phát triển doanh ngiệp ở vùng Mêkông: Một số bài học về hợp tác Nam-Nam, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 7, tr14-22.
31. Nguyễn Hữu Đông (2010), Hợp tác khai thác du lịch trên tuyến Hành lang Kinh tế Đông Tây, Hành lang Kinh tế Đông-Tây, UBND tỉnh Quảng Trị-Bộ ngoại giao-Báo Thế giới & Việt Nam, Đông Hà, tr47-49.
32. Nguyễn Hoàng Giáp, Mai Hoài Anh (2008), “Quan điểm và đối sách của Việt Nam về Hành lang kinh tế Đông-Tây”, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 11, tr. 13-20.
33. Đặng Bích Hà, Phạm Nguyên Long, Vũ Công Quý (1998), Lịch sử Lào, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.
34. Nguyễn Văn Hà (2009), Thương mại và đầu tư trong tam giác phát triển Việt Nam-Lào-Campuchia, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 11, tr17-24.
35. Trần Công Hàm, Nguyễn Hào Hùng (2005), “Ba mươi năm nước CHDCND Lào: Những thành tựu”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6, tr3-11.
36. Võ Tá Hân-Trần Quốc Hùng-Vũ Quang Việt (2000), Châu Á từ khủng hoảng nhìn về thế kỷ 21, NXB Thành phố Hồ Chí Minh.
37. Dương Phú Hiệp-Nguyễn Duy Dũng (chủ biển) (2002), Điều chỉnh chính sách kinh tế của Nhật Bản, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 158
38. Hoàng Thị Minh Hoa, Nguyễn Văn Cường (2009), Khái quát về quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam với Lào và Campuchia giai đoạn 1991-2005, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, Tr. 21-28.
39. Hoàng Thị Minh Hoa-La Xuân Thành (2010), Hợp tác NhậtBản-Lào trong phát triển Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 10, tr31-44.
40. Trương Duy Hòa (1996), “Quan hệ đầu tư Thái Lan-Đông Dương”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1, tr80-83.
41. Trương Duy Hoà (2008), “Hành lang kinh tế Đông Tây và tác động của nó đến Lào và quan hệ Việt Nam-Lào”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 11, tr36-40.
42. Nguyễn Đức Hòa (2010), Mối quan hệ Nhật Bản với các nước tiểu vùng MeKong và những triển vọng phát triển hành lang kinh tế và hệ thống cảng biển nước sâu, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế: Nhật Bản và các nước tiểu vùng Mekong-mối quan hệ lịch sử, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh, tr130-141.
43. Nguyễn Huy Hoàng (2009), Khủng hoảng kinh tế toàn cầu và tác động của nó tới các nền kinh tế Đông Nam Á, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 7, tr32-37.
44. Nguyễn Huy Hoàng (2009), So sánh thực trạng đầu tư và thương mại của Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 11, tr25-33.
45. Nguyễn Huy Hoàng (2012), Vai trò của các hành lang kinh tế trong kết nối ASEAN và Đông Á, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 8, tr28-37.
46. Hội nghiên cứu Khoa học Đông Nam Á-Việt Nam (2000), Việt Nam và hợp tác phát triển tiểu vùng Mê Công, Hà Nội.
47. Nguyễn Cảnh Huệ (2010), Về quan hệ Nhật Bản-Tiểu vùng MeKong và vị trí của Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế: Nhật Bản và các nước tiểu vùng Mekong-mối quan hệ lịch sử, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh tr102-111.
48. Nguyễn Hào Hùng (2004), “Chính sách đối ngoại của CHDCND Lào thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6, tr18-27.
49. Nguyễn Hào Hùng (2005), “Những nhân tố thuận lợi và khó khăn trong quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào hiện nay”, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3, tr25-28.159
50. Nguyễn Hào Hùng (2005), “Tác động của tiến trình hội nhập Việt Nam ASEAN đến quan hệ Việt Nam-Lào”, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4, tr28-33.
51. Mạnh Ngọc Hùng (2007), “Tác động của toàn cầu hoá đến an ninh các quốc gia và khu vực”, tạp chí khoa học xã hội, số ngày 22/03, tr12.
52. Nguyễn Hào Hùng (2008), Tình đoàn kết truyền thống Việt Nam-Lào trong lịch sử, Tạp chí Đông Nam Á, số 9, Tr. 24-34.
53. Nguyễn Mạnh Hùng-Nguyễn Thị Hiền (2010), Mỹ với tiến trình hợp tác Tiểu vùng Mê Công, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 6, tr15-21.
54. Đào Việt Hưng (2006), Trung Quốc trong hợp tác Tiểu vùng Mê Công mở rộng, Viện Kinh tế và chính trị Thế giới, Hà Nội.
55. Trịnh Thị Thu Hương (2011), Một số khó khăn đối với phát triển hệ thống logistics trên Hành lanh kinh tế Đông-Tây (EWEC), Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 4, tr35-42.
56. Trịnh Thị Thu Hương (2011), Nghiên cứu hệ thống logistics trên Hành lanh kinh tế Đông-Tây, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Bộ Giáo dục và Đào tạo, mã số B2009-08-58.
57. Kayxỏn Phômvihẳn (1990), Một số vấn đề quản lý kinh tế hiện nay ở Lào, NXB Sự thật, Hà Nội.
58. Lương Văn Kế (2007), Thế giới đa chiều, lý thuyết và kinh nghiệm nghiên cứu khu vực, NXB Thế giới, Hà Nội.
59. Hoàng Viết Khang (2009), Hợp tác kinh tế tiểu vùng Mê Công mở rộng: Hiện trạng, định hướng và giải pháp, Luận án tiến sỹ kinh tế, Viện kinh tế và chính trị thế giới, Hà Nội.
60. Trần Khánh (chủ biên) (2002), Liên kết ASEAN trong bối cảnh toàn cầu hóa, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
61. Trần Khánh (chủ biên) (2006), “Những vấn đề kinh tế chính trị Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
62. Nguyễn Trùng Khánh (2011), Một số chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch của Thái Lan, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 10, tr49-56.
63. Kỷ yếu hội thảo quốc tế Tiểu vùng Mê Công mở rộng các vấn đề nghiên cứu và mạng lưới hợp tác (2005), Viện Kinh tế và chính trị Thế giới, Trung tâm Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương, Hội An.
64. Kỷ yếu hội thảo quốc tế: Hợp tác Tiểu vùng Mê Công mở rộng và Hành lanh kinh tế Đông-Tây (2006), Viện Kinh tế và chính trị thế giới và Đại học Waseda, Hà Nội.
65. Kỷ yếu hội thảo khoa học: Khai thác tiềm năng văn hóa để phát triển du lịch trong tiểu vùng sông MêKông (2010), Trường Cao đẳng sư phạm Quảng Trị, Đông Hà.
66. Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế: Nhật Bản và các nước tiểu vùng Mekong-mối quan hệ lịch sử (2010), Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh.
67. Hoa Hữu Lân (2001), Nghiên cứu so sánh mô hình kinh tế giữa Đông Á và ASEAN trong bối cảnh khủng hoảng hiện nay, Tạp chí Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương, số 3, tr42-48.
68. Phan Ngọc Liên (chủ biên) (1994), Hồ Chí Minh-Những hoạt động quốc tế, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội.
69. Phan Ngọc Liên (chủ biên) (1999), Lược sử Đông Nam Á, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
70. Phan Ngọc Liên (chủ biên) (1999), Một số vấn đề lịch sử, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
71. Nguyễn Văn Lịch (2010), Vai trò của Nhật Bản và ADB trong hợp tác và phát triển GMS, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế: Nhật Bản và các nước tiểu vùng Mekong-mối quan hệ lịch sử, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh, tr123-129.
72. Nguyễn Quốc Lộc-Nguyễn Công Khanh-Đoàn Thanh Hương (2004), Tổng quan về ASEAN và tiềm năng Thành phố Hồ Chí Minh trong tiến trình hội nhập, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh.
73. Nghi Lộc (2012), Dịch vụ logistics trên EWEC: “Hạ tầng cứng” hoàn thiện, "hạ tầng mềm" có vấn đề, Ngày truy cập 13/7/2013.
74. Nguyễn Duy Lợi (2006), Chênh lệch phát triển và an ninh kinh tế trong khu vực tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (GMS), Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 10, tr19-27.
75. Bùi Hà Minh, Nâng cao năng lực để đón đầu, ngày truy cập 12/7/2013
76. Phương Minh (2008), Tạo mọi điều kiện để Khu KT-TMĐB Lao Bảo phát triển, đảm nhận vai trò là Trung tâm thương mại, dịch vụ du lịch, giao dịch khu vực và quốc tế, ngày 22, tháng 12,
77. Phương Minh (2009), Tuyến vận tải đường bộ chung Việt Nam-Lào Thái Lan, cơ hội mới để phát triển, ngày truy cập 19.7.2013 baoquangtri. Vn/default. Aspx? TabID=75&modid=386&ItemID=5529
78. Phạm Quang Minh (2008), “Hành lang kinh tế Đông-Tây và quan điểm của Thái Lan”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 11, tr. 21-29.
79. Trần Văn Minh (2008), “Vai trò của thành phố Đà Nẵng với việc xây dựng và phát triển tuyến Hành lang kinh tế Đông-Tây”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 11, tr. 8-12.
80. Đỗ Mười (1996), Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
81. Nguyễn Thu Mỹ (chủ biên) (1998), ASEAN hôm nay và triển vọng phát triển trong thế kỷ XIX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
82. Nguyễn Thu Mỹ (2008), “Hành lang kinh tế Đông-Tây trong chính sách của Nhật Bản”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 11, tr. 30-35.
83. Nguyễn Thu Mỹ (chủ biên) (2012), Lịch sử Đông Nam Á-Tập VI, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
84. Trình Mưu-Vũ Quang Vinh (đồng chủ biên) (2005), Quan hệ quốc tế những năm đầu thế kỷ XXI, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội.
85. Narut Charoensri, Nhật Bản và vấn đề Hành lang kinh tế Đông Tây: Mục đích và quyền lợi, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế: Nhật Bản và các nước tiểu vùng Mekong-mối quan hệ lịch sử, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh, tr480-487.162
86. Hoài Nam (2008), “Trung Quốc với Hành lang kinh tế Đông Tây”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 11, tr. 47-53.
87. Nguyễn Quốc Nghi-Hoàng Thị Hồng Lộc (2011), Hợp tác phát triển bền vững kinh tế Việt Nam-Lào: Nhìn từ góc độ đầu tư trực tiếp của Việt Nam, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 8, tr62-73.
88. Nhà xuất bản chính trị quốc gia (2005), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Hà Nội.
89. Nhà xuất bản trẻ (2006), Đối thoại với các nền văn hóa-Lào, Thành phố Hồ Chí Minh.
90. Nhà xuất bản trẻ (2006), Đối thoại với các nền văn hóa-Thái Lan, Thành phố Hồ Chí Minh.
91. Nhà xuất bản trẻ (2006), Đối thoại với các nền văn hóa-Myanmar, Thành phố Hồ Chí Minh.
92. Hoài Nguyên (1995), Lào-đất nước và con người, NXB Thuận Hóa, Huế.
93. Hoàng Nguyên (2000), “Quan hệ Việt Nam-Thái Lan và Myanma 1848 1849”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 41, tr. 8-83.
94. Vũ Dương Ninh (1990), Vương quốc Thái Lan-Lịch sử và hiện tại, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
95. Vũ Dương Ninh (1993), Một số vấn đề về sự phát triển của các nước ASEAN, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
96. Vũ Dương Ninh (2003), ASEAN-Những thách thức đầu thế kỷ mới, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Đông Á-Đông Nam Á những vấn đề lịch sử và hiện tại”, Hà Nội 28/3/2003.
97. Vũ Dương Ninh (chủ biên) (2004), Việt Nam-ASEAN quan hệ đa phương và song phương, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
98. Lương Ninh (chủ biên), Đỗ Thanh Bình, Trần Thị Vinh (2005), Lịch sử Đông Nam Á, NXB Giáo dục, Hà Nội.
99. Nguyễn Hồng Nhung (2010), Vai trò của chính quyền địa phương trong việc thực hiện các cam kết quốc gia trong khung khổ hợp tác Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng, Đề tài nhiệm vụ cấp Bộ, Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới, Hà Nội. 163
100. Nguyễn Thị Hồng Nhung (cb) (2011), Vai trò của chính quyền địa phương trong hợp tác tiểu vùng sông Mê Công mở rộng, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội.
101. Nguyễn Hồng Nhung (2006), Một số giải pháp trong lĩnh vực hợp tác GMS nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các hành lang kinh tế cho phát triển kinh tế, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 11, tr32-38.
102. Nguyễn Hồng Nhung (2006), Du lịch-Cách tiếp cận để phát triển ở Tiểu vùng sông Mê kông mở rộng, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 3, tr79-80.
103. Nguyễn Hồng Nhung (2007), Việt Nam trong hợp tác Tiểu vùng Mê Kông mở rộng, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 5, tr15-23.
104. Nguyễn Hồng Nhung (2009), Chương trình GMS của ADB và Chương trình Hợp tác Tam giác phát triển Việt Nam-Lào-Cămpuchia, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 3, tr56-61.
105. Nguyễn Hồng Nhung (2010), Vai trò của chính quyền địa phương trong thực hiện các cam kết quốc gia về hợp tác kinh tế Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 10, tr8-20.
106. Pisanu Chanvitan (2010), Tham luận trình bày tại lễ khai mạc Diễn đàn Hợp tác Hành lang kinh tế Đông Tây, Hành lang Kinh tế Đông-Tây, UBND tỉnh Quảng Trị Bộ ngoại giao-Báo Thế giới & Việt Nam, Đông Hà, tr10-11.
107. Lê Hữu Phúc (2008), “Vai trò của tỉnh Quảng Trị đối với việc xây dựng và phát triển Hành lang kinh tế Đông Tây (EWEC)”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 11, tr. 3-7.
108. Lê Hữu Phúc (2012), Phát huy sức mạnh truyền thống, khai thác có hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực cho Quảng Trị phát triển nhanh và bền vững, Quảng Trị tiềm năng và triển vọng phát triển, UBND tỉnh Quảng Trị, Quảng Trị, tr7-11.
109. Trần Anh Phương (1999), “Về sự điều chỉnh chính sách an ninh chính trị đối ngoại thời kì sau chiến tranh lạnh của Nhật Bản đối với các nước ASEAN và NIEs Đông Á”, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 6, tr17-22.164
110. Nguyễn Trần Quế (2003), “Mấy ý kiến về quan hệ Việt-Lào trong lĩnh vực hợp tác kinh tế”, Hội thảo khoa học “Quan hệ Việt Nam-Lào: Hiện trạng và triển vọng”, Viện KHXHVN-Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Viêng Chăn.
111. Nguyễn Trần Quế (chủ biên) (2003), 35 năm ASEAN hợp tác và phát triển, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
112. Nguyễn Trần Quế (2004), Triển vọng hợp tác ASEAN trong bối cảnh tăng cường liên kết kinh tế Đông Á, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 9, tr23-33.
113. Nguyễn Trần Quế (chủ biên) (2007), Hợp tác phát triển tiểu vùng Mê Công mở rộng hiện tại và tương lai, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
114. Nguyễn Trần Quế và Kiều Văn Trung (2001), Tiểu vùng Mê Công mở rộng-tiềm năng và hợp tác phát triển quốc tế, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
115. Phạm Thái Quốc (2006), Hợp tác GMS và tác động của nó đến phát triển kinh tế miền Trung Việt Nam, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 10, tr9-18.
116. Phạm Thái Quốc và Trần Văn Duy (2007), Hợp tác Tiểu vùng Mê Kông mở rộng và quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 8, tr69-80.
117. Nguyễn Duy Quý (2001), Tiến tới một ASEAN hòa bình, ổn định và phát triển bền vững, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
118. Bùi Thanh San (2009), Khu kinh tế-thương mại đặc biệt Lao Bảo-10 năm xây dựng và phát triển, Cục hải quan Quảng Trị.
119. Nguyễn Hữu Sia (2010), Cảng Đà Nẵng-Cửa ngõ hành lang: Hiện trạng và tiềm năng, Hành lang Kinh tế Đông-Tây, UBND tỉnh Quảng Trị-Bộ ngoại giao-Báo Thế giới & Việt Nam, Đông Hà, tr44-46.
120. Sở kế hoạch và đầu tư Đà Nẵng (2008), Báo cáo về việc làm việc với đoàn khảo sát của ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) Về dự án Hành lang kinh tế Đông-Tây, ngày 10/10.
121. Sở ngoại vụ Đà Nẵng (2007), Báo cáo tổng kết tuần lễ Hành lang kinh tế Đông Tây 2007, tháng 9.
122. Sở kế hoạch và đầu tư Quảng Trị (2006), Đề án phương hướng và giải pháp đẩy mạnh đầu tư khai thác tiềm năng, lợi thế Hành lang kinh tế Đông-Tây (EWEC) Tỉnh Quảng Trị, ngày 06/11.
123. Sở ngoại vụ Thừa Thiên Huế (2006), Báo cáo tình hình thực hiện các dự án hợp tác trong Hành lang kinh tế Đông-Tây và đề xuất hợp tác trong thời gian tới, ngày 28/02.
124. Nguyễn Xuân Sơn-Thái Văn Long (chủ biên) (1997), Quan hệ đối ngoại của các nước ASEAN, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
125. Suphăn Kẹomexay (2010), Tác động của Hành lang kinh tế Đông-Tây đối với tỉnh Savannakhet, Hành lang Kinh tế Đông-Tây, UBND tỉnh Quảng Trị Bộ ngoại giao-Báo Thế giới & Việt Nam, Đông Hà, tr14-15.
126. Bùi Thị Tám (2012), Đánh giá khả năng thu hút khách du lịch của hành lang kinh tế Đông Tây phía Việt Nam, Báo cáo tổng kết Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Khoa Du lịch, Đại học Huế.
127. Nguyễn Văn Tận (2000), “Nhìn lại chính sách đối ngoại của Nhật Bản trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và hệ quả của nó”, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 4, tr49-51.
128. Nguyễn Xuân Tế (2000), Thể chế chính trị các nước ASEAN, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
129. Trần Minh Tích (2012), Hành lang Kinh tế Đông Tây (EWEC)-Cơ hội phát triển, ngày truy cập 19/7/2013,
130. Phạm Tiến (2010), Nhận diện nền chính trị thế giới 10 năm đầu thế kỷ XXI, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 8, tr3-12.
131. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (2011), Xây dựng Thừa Thiên Huế xứng tầm là trung tâm văn hoá, du lịch đặc sắc của cả nước giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2020, Nghị quyết số 06-NQ/TU, ngày 15 tháng 11 năm 2011, Huế.
132. Nguyễn Anh Thái (chủ biên) (2001), Lịch sử thế giới hiện đại, NXB Giáo dục, Hà nội. 166
133. Hoàng Văn Thái (1983), Liên minh, đoàn kết chiến đấu Việt Nam-Lào Campuchia, NXB Sự thật, Hà Nội.
134. Nguyễn Quốc Thanh (2013), Khu Kinh tế-Thương mại đặc biệt Lao Bảo qua 10 năm phát triển tạo động lực trên Hành lang Kinh tế Đông-Tây, Nghiên cứu trao đổi-Trường chính trị Lê Duẩn, Quảng Trị.
135. Phạm Đức Thành (chủ biên) (2001), Đặc điểm con đường phát triển kinh tế-xã hội của các nước ASEAN, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
136. Phạm Đức Thành (2008), “Campuchia với Hành lang kinh tế Đông Tây”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 11, tr. 41-46.
137. Phạm Đức Thành-Trương Duy Hòa (chủ biên) (2002), Kinh tế các nước Đông Nam Á thực trạng và triển vọng, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
138. Phạm Đức Thành (2007), Vai trò kinh tế của người Việt ở Lào, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, tr19-26.
139. Trần Cao Thành (2008), Hợp tác phát triển tiểu vùng Mê Công mở rộng và vai trò tác động xây dựng cộng đồng ASEAN, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6, tr. 17-24.
140. Lê Hữu Thăng (2010), Việt Nam và ASEAN: Những bước hội nhập tiếp theo, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 2, tr6-9.
141. Nguyễn Xuân Thắng (2005), Hợp tác Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng: Các sáng kiến, sự tiến triển và những lựa chọn ưu tiên, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 12, tr14-15.
142. Nguyễn Xuân Thắng (2005), Hợp tác Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng: Các sáng kiến, sự tiến triển và những lựa chọn ưu tiên, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 12, tr3-13.
143. Nguyễn Xuân Thắng (2006), Hành lang kinh tế và Hành lang kinh tế Đông-Tây: Một số đề xuất về giải pháp phát triển, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 5, tr3-13.
144. Trần Đình Thiên (2005), Liên kết kinh tế ASEAN vấn đề và triển vọng, NXB Thế giới, Hà Nội.
145. Nguyễn Duy Thiệu (2007), Cộng đồng người Việt tại Lào sinh tồn và giữ gìn bản sắc, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, tr3-13.167
146. Thông tấn xã Việt Nam (2006), “Quan hệ hữu nghị đặc biệt hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào”, Thông tin tư liệu, tr15-21.
147. Thông tấn xã Việt Nam, 26/08/2007.
148. Thông tấn xã Việt Nam, 27/08/2007.
149. Thông tấn xã Việt Nam, 28/08/2007.
150. Thông tấn xã Việt Nam, 29/08/2007.
151. Thông tấn xã Việt Nam, 30/08/2007.
152. Thông tấn xã Việt Nam, 31/08/2007.
153. Thông tấn xã Việt Nam, 01/09/2007.
154. Thông tấn xã Việt Nam (2009), Việt Nam, Thái Lan, Lào thực hiện hiệp định thúc đẩy giao thương trên hành lang kinh tế Đông-Tây, ngày truy cập 19.7.2013,
155. Thời báo kinh tế Việt Nam, 27/12/2005.
156. Thời báo kinh tế Việt Nam, 15/06/2009.
157. Võ Thanh Thu (2000), Kinh tế đối ngoại, NXB tài chính, Hà Nội.
158. Võ Thanh Thu (2008), Quan hệ kinh tế quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội.
159. Bùi Thị Thu, Vũ Mạnh Cường (2010), Định hướng khai thác các di tích lịch sử-văn hóa tỉnh Quảng Trị cho mục đích du lịch, Tạp chí khoa học, Đại học Huế, tập 72A, số 3, tr259-267.
160. Thủ tướng Chính phủ (2005), Quyết định về việc Ban hành Quy chế Khu Kinh tế-Thương mại đặc biệt Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, ngày 12 tháng 01, Hà Nội.
161. Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định số: 495/QĐ-TTg về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế-thương mại đặc biệt Lao Bảo tỉnh Quảng Trị đến năm 2025, ngày 07/04, Hà Nội.
162. Trường Đại học sư phạm Huế-Khoa Lịch sử (2005), Một số vấn đề lịch sử, Tập I, NXB Thuận Hóa, Huế.
163. UBND tỉnh Quảng Trị (2012), Quảng Trị tiềm năng & cơ hội đầu tư, Quảng Trị.
164. Viện Đông Nam Á (1981), Tìm hiểu lịch sử văn hóa nước Lào, Tập II. 168
165. Nguyễn Văn Vinh (2008), Những sự kiện lịch sử ở Lào 1353-1975, NXB Lao động, Hà Nội.
166. Yaowalak Apichatvullop (2010), Quan điểm từ phía trường ĐH Khonkaen (KKU) Thái Lan, Hành lang Kinh tế Đông-Tây, UBND tỉnh Quảng Trị Bộ ngoại giao-Báo Thế giới & Việt Nam, Đông Hà, tr32-35.
167. Asian Development Bank (1999), Technical Assistance for East-West Corridor Coordination, Manila.
168. Asian Development Bank (2000), Proceedings of the 7th Ministerial Conference on GMS, Manila.
169. Asian Development Bank (2001), Proceedings of the 10th Ministerial Conference on GMS, Manila.
170. Asian Development Bank (2008), Lao People’s Democratic Republic and Socialist Republic of Viet Nam: Greater Mekong Subregion: East−West Corridor Project, Manila.
171. Asian Development Bank (2008), Project Completion Report on the Greater Mekong Subregion: East-West Corridor Project (Lao PDR and Viet Nam), Manila.
172. Asian Development Bank (2008), Technical Assistance to the Lao People’s Democratic Republic for Building Lao PDR’s Capacity to Develop Special Economic Zones, Manila.
173. Asian Development Bank (2008), Sector Assistance Program Evaluation on Transport and Trade Facilitation in the Greater Mekong Subregion, Manila.
174. Asian Development Bank (2010), Strategy and Action Plan for the Greater Mekong Subregion East-West Economic Corridor, Mandaluyong City, Philippines.
175. Asian Development Bank (2008), Vientiane Action Plan, ADB Publication, Manila.
176. Asian Development Bank (2009), East-West Economic Corridor (EWEC) Strategy and Action Plan, Development Study of the East-West Economic Corridor Greater Mekong Subregion, Manila. 169
177. Calla Wiemer (2009), Economic Corridors for the Greater Mekong Subregion, EAI Background Brief No. 479, East Asian Institute.
178. Discussion Paper No. 35, Aug. 2005, Masami Ishida, Effectiveness and Challenges of Three Economic Corridor of the the Greater Mekong Subregion, Institute of Developing Countries (IDE), Japan.
179. GMS Sustainable Tourism Development Project in Lao PDR (2009), Development of a Thematic Interpretation Plan & Strategy to Encourage Tourists to Stay Longer on the East-West Economic Corridor in Lao PDR, Savannakhet Province, Lao PDR.
180. Japan Bank for International Coopera tion (2003), Regional cooperation strategy on interconnected power networks in Indochina, Japan.
181. Japan International Cooperation Agency (2001), Promotion of the Development of the Mekong River Basin, Japan.
182. Htun, K. W., N. N. Lwin, T. H. Naing and K. Tun (2011), ‘ASEAN-India Connectivity: A Myanmar Perspective’ in Kimura, F. And S. Umezaki (eds.), ASEAN India Connectivity: The Comprehensive Asia Development Plan, Phase II, ERIA Research Project Report 2010-7, Jakarta: ERIA, pp. 151-203.
183. Katsumi Uchida (2008), Japan’s Policy and Strategy of Economic Cooperation in CLMV, International Development Research Institute (IDRI), Foundation for Advanced Studies on International Development (FASID), Japan;
184. Lee Sheridan (2009), Strategy and Action Plan to Encourage Tourists to Stay Longer and Spend More on the East West Economic Corridor Savannakhet, Lao PDR, SNV Lao Programme Savannakhet Provincial Tourism Department Lao National Tourism Administration, Lao PDR.
185. Le Le Phyo (2010), Border Trade in Myanmar, 1997-1998 to 2007 2008, Yangon Institute of Economics, Myanmar.
186. Myo Nyunt (2004), A study of Myanmar Trade with ASEAN, 1996/1997 -2001/2002, Yangon Institute of Economics, Myanmar.
187. Ruth Banomyong et all (2008), East-West Economic Corridor Logistics, Benchmark Study. 170
188. Yaowalak Apichatvullop Panadda Phucharoensilp (2007), The East-West Economic Corridor Project in Thailand: Perceived Meanings and Expectations, Center for Research on Plurality in the Mekong Region, Faculty of Humanities and Social Sciences, Khon Kaen University Khon Kaen, Thailand.
189. Yin Yin Mya (2006), Overview of Myanmar Economy, Seminar on ASEAN Economic Community and the Proposed East Asian Free Trade Area: Prospects and Implications on Trade and Development of Myanmar, March 22-23, Yangon, Myanmar.
190. Yongvanit, Sekson and Bejrananda, Monsicha. (2006). The East West Economic Corridor (EWEC) And its impact on the urban development of Khon Kaen City. In Urban changes in different scales: Systems and structures, Presented in Santiago de Compostela, Spain on 31 July-6 August 2006.

DOWNLOAD LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ: TIẾN TRÌNH HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CÁC NƯỚC THUỘC HÀNH LANG KINH TẾ ĐÔNG TÂY (1998 - 2010)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét