LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC: NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ KẾT QUẢ CAN THIỆP PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI HUYỆN BẮC TRÀ MY TỈNH QUẢNG NAM
ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy
dinh dưỡng trẻ em là tình trạng bệnh lý mang tính cộng đồng ở nhiều
nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Phân bố suy dinh dưỡng trẻ
em khác biệt rõ nét giữa các châu lục, các vùng miền trên thế giới. Theo
số liệu của Tổ chức Y tế thế giới, suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi
tập trung chủ yếu ở châu Á và châu Phi. Các vùng Nam Trung Á, Đông Nam
Á,Đông Phi, Tây Phi và Trung Phi có trẻ em suy dinh dưỡng luôn cao, nhất
là Ấn Độ, Bangladesk, Đông Timor, Lào, Niger, Somalia, Burnika [140]. Ở
nước ta trong những năm qua nhờ triển khai Chương trình quốc gia phòng
chống suy dinh dưỡng đạt hiệu quả, tình trạng suy dinh dưỡng chung ở trẻ
em dưới 5 tuổi đã giảm đáng kể, từ 43,9% năm 1995 [2] còn 16,8% năm
2012 [69]. Tuy nhiên, mức độ giảm xuống không đồng đều giữa các vùng,
khu vực, suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi vẫn còn cao và rất cao ở vùng
miền núi cao, đồng bào dân tộc thiểu số [29], [59]. Các khu vực Tây
Nguyên, Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ là những nơi có tỷ
lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi cao hơn so với các vùng khác trên
cả nước [22], [31], [69].
Suy
dinh dưỡng không chỉ làm chậm phát triển thể chất, trí tuệ, là nguyên
nhân hàng đầu dẫn đến tử vong trẻ em dưới 5 tuổi [70], mà còn gây nên
hậu quả lâu dài lên tầm vóc người trưởng thành, giảm khả năng lao động
và ảnh hưởng tới thu nhập quốc dân [4].
Có
nhiều yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ, không như
nhau ở mỗi địa phương, cần tìm hiểu trong từng cộng đồng cụ thể. Quảng
Nam là một tỉnh ven biển miền Trung, với 8 huyện miền núi cao, trong đó
Bắc Trà My là huyện mà tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi cao nhất
tỉnh (32,2%) Và điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn so với các
huyện, thị thành khác của tỉnh [66].
Bắc
Trà My có 12 xã, 1 thị trấn, trong đó có 9 xã thuộc Chương trình 135
của Chính phủ với 90 % đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống [47]. Kết quả
khảo sát năm 2009 tại các xã Chương trình 135 huyện Bắc Trà My thấy tỷ
lệ suy dinh dưỡng trẻ em dân tộc thiểu số dưới 5 tuổi thể nhẹ cân 36,7%,
thể thấp còi 63,3%, thiếu máu lâm sàng 57,1%, nhiễm khuẩn hô hấp 47,8%
[9]. Địa phương chưa quan tâm bổ sung cho trẻ ở vùng đặc biệt khó khăn
các vi chất dinh dưỡng như sắt, axit folic [2], kẽm [81], [105] và chưa
xổ giun định kỳ cho trẻ theo khuyến cáo của Bộ Y tế [2]. Đặc biệt có rất
nhiều trẻ em hàng ngày ăn thiếu thực phẩm sẵn có giàu dinh dưỡng, như
thiếu chất đạm 74,4%, thiếu chất béo 76,8% [9]. Mặt khác, các bà mẹ gặp
nhiều rào cản trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ như: 21,3% mù chữ,
29,5% tiểu học, 62,8% hộ nghèo và nhiều tập tục lạc hậu như không dám
cho con ăn “chất tanh”, kiêng khem khi con bị ốm. Nhưng kết quả
khảo sát cho thấy các bà mẹ rất tin tưởng vào những người có uy tín tại
địa phương [9].
Từ
thực trạng trên, nhằm tìm ra mô hình phù hợp huy động nguồn lực cộng
đồng phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dân tộc thiểu số dưới 5 tuổi dựa
vào vai trò người có uy tín và bối cảnh đặc thù của nhóm đích, cải thiện
hành vi nuôi con của bà mẹ, qua đó cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng
và bệnh tật trẻ em, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu thực trạng
và kết quả can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi người
dân tộc thiểu số tại huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam”, với các mục tiêu
sau:
1.
Mô tả tình trạng suy dinh dưỡng và các yếu tố liên quan ở trẻ dưới 5
tuổi người dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam.
2. Đánh giá kết quả can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc thiểu số tại địa bàn nghiên cứu.
Chương 1 TỔNG QUAN
1.1. THỰC TRẠNG SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI
1.1.1. Tình hình thiếu dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi
1.1.1.1. Tình hình thiếu dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới
Theo
kết quả điều tra suy dinh dưỡng trẻ em (SDDTE) Dưới 5 tuổi tại79 nước
đang phát triển giai đoạn từ 1980-1992 của Onis M. Và cộng sự thấy có
192,5 triệu trẻ nhẹ cân (35,8%); 229,9 triệu thấp còi (42,7%) Và 49,5
triệu gầy còm (9,2%). Các nước có tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng (SDD) Cao
và rất cao như Bangladesh có 65,8% nhẹ cân, 64,6% thấp còi và 15,5% gầy
còm; Ấn Độ có 63,9% nhẹ cân, 62,1% thấp còi và 19,2% gầy còm; Guatemala
với 33,5% nhẹ cân và 57,9% thấp còi [111]. Tại hội nghị thượng đỉnh về
dinh dưỡng tổ chức tại Roma tháng 12/1992, các chuyên gia đã đưa ra
chương trình hành động, có sự cam kết của các quốc gia nhằm làm giảm
SDDTE xuống còn một nửa vào năm 2000 so với năm 1990 [88].
Theo
số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Cho thấy các nước thuộc châu Á,
châu Phi từ trước cho đến nay vẫn có tỷ lệ SDDTE cao so với các châu
lục khác [133], [141]. Báo cáo của WHO năm 1995 trên toàn cầu có 169,5
triệu trẻ nhẹ cân (27,8%); 213,1 triệu thấp còi (34,9%) Và 50,2 triệu
gầy còm (8,4%). Trong đó, các nước đang phát triển chiếm đại đa số với
98,2% (166,5 triệu) Nhẹ cân; 86,0% (204,6 triệu) Thấp còi và 81,0% (6,8
triệu) Gầy còm. Ở châu Á (35,0% nhẹ cân, 41,0% thấp còi và 10,3% gầy
còm), các vùng có tỷ lệ SDDTE rất cao là Nam Trung Á (49,3% nhẹ cân,
49,6% thấp còi và 15,2% gầy còm) Và Đông Nam Á (33,5% nhẹ cân,39,7% thấp
còi và 9,4% gầy còm). Tiếp đến, ở châu Phi (28,4% nhẹ cân,38,6% thấp
còi và 7,1% gầy còm), các vùng chiếm tỷ lệ cao là Đông Phi (49,3% nhẹ
cân, 49,6% thấp còi và 15,2% gầy còm) Và Tây Phi (49,3% nhẹ cân, 49,6%
thấp còi và 15,2% gầy còm) [135].
Trong
vòng 15 năm trở lại đây, SDDTE có xu hướng giảm trên phạm vi toàn cầu.
Thống kê của Qũy Nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF), WHO và Ngân hàng thế
giới năm 2011 về SDDTE dưới 5 tuổi thấy châu Á vẫn là châu lục đứng đầu
về tỷ lệ 19,3% nhẹ cân (69,1 triệu) Và tỷ lệ 10,1% gầy còm (36,1 triệu).
Riêng trẻ thấp còi, châu Phi trở thành châu lục chiếm tỷ lệ cao nhất
với 35,6% (56,3 triệu); Tiếp theo là châu Á: 26,8% (98,4 triệu). Hai
châu lục này chiếm trên 90% trẻ thấp còi trên toàn cầu [130].
Hiện
nay, theo kết quả nghiên cứu trẻ em dưới 5 tuổi của tổ chức Cứu trợ trẻ
em Mỹ năm 2012, trên thế giới còn hơn 100 triệu (15,7%) Nhẹ cân,171,0
triệu (27,0%) Thấp còi và hơn 60 triệu (10,0%) Gầy còm [120]. Các khu
vực Nam Á, cận hoang mạc Sahara có tỷ lệ SDDTE cao nhất [120].
Những
quốc gia còn tỷ lệ SDDTE cao và rất cao cả 3 thể nhẹ cân, thấp còi, gầy
còm tương ứng như Timor Leste năm 2010 (44,7%, 58,1%, 18,6%); Niger năm
2011 (38,5%, 51,0%, 12,3%); Pakistan năm 2011 (31,5%, 43,7%,15,1%);
Bangladesh năm 2011 (36,4%, 41,3%, 15,6%) [128].
Các
số liệu SDDTE trên toàn cầu chủ yếu phân theo các châu lục, vùng lãnh
thổ và theo từng quốc gia; Chưa chú trọng đúng mức việc xác định SDDTE
theo từng từng chủng tộc, tộc người trong các báo cáo thường niên của
WHO và UNICEF [126], [140]. Nghiên cứu của Larrea C. Và Freire W. Tại
các nước Nam Mỹ cho thấy tỷ lệ trẻ em thấp còi năm 1999 ở các tộc người
bản xứ liên quan chặt chẽ với điều kiện kinh tế đói nghèo và cao hơn
cách biệt so với trẻ em không thuộc tộc người bản xứ, như ởEcuador
(58,2% so với 24,2%); ở Peru (47,0%/22,5%) Và Bolivia (50,5%/23,7%)
Tương ứng [103]. Tổ chức xã hội học Hoa Kỳ đã tiến hành nghiên cứu về
mối liên quan giữa tình trạng sức khỏe với các yếu tố chủng tộc, dân tộc
tại chính quốc năm 2005 thấy có sự khác biệt về tỷ lệ tử vong trẻ em ở
năm đầu đời của người Mỹ gốc Phi cao gấp 2 lần trẻ em da trắng.
Trẻ
em Mỹ gốc Nhật có tỷ lệ tử vong thấp hơn 8,2 lần so với tộc người
Hawaiians [77]. Tác giả Alessandra M. Và cộng sự khảo sát tại Guatemala
năm 2003 thấy trẻ em tộc người bản xứ có tỷ lệ thấp còi (57,6%) Và nhẹ
cân (27,8%) Cao hơn tỷ lệ chung (44,2% và 22,3%) Tương ứng; Trong đó,
tộc người Mam (65,3% và 39,4%); Người Mayan (62,5% và 31,9%) Tương ứng
[75]. Nghiên cứu của Spencer N. Về các tộc người châu Âu năm 2003 thấy
trẻ em các tộc người bản xứ ở Trung và Đông Âu có tỷ lệ SDDTE, tỷ lệ mắc
bệnh và tử vong cao hơn nhiều lần trẻ em không thuộc tộc người bản xứ
[121]. Điều tra của Hatlekk M. Năm 2012 thấy tỷ lệ thấp còi trẻ em khác
nhau giữa các tộc người vùng Nam Á: Tộc người Bà la môn (Brahmin) 45,1%;
Hill Dalits 56,1%; Yadav (70,7%); Newar 72,3% và Hồi giáo (Muslim)
72,8% [92]. Nghiên cứu của UNICEF năm 2011 khu vực châu Á-Thái Bình
Dương cũng thấy sự chênh lệch lớn giữa các tộc người.
Tỷ
lệ trẻ 18-23 tháng ở Campuchia bị thấp còi 50,0% và trẻ nhẹ cân 45,0%
chủ yếu ở trẻ em dân tộc thiểu số. Tương tự, tỷ lệ tương ứng ở Lào là
40,0% và 37,0%. Ở Phillippines, trẻ nhẹ cân sống vùng thủ đô 15,7%, thấp
hơn nhiều so với 36,1% trẻ sống ở vùng khó khăn Bitol [129].
Bên
cạnh tình trạng thiếu dinh dưỡng protein-năng lượng, việc thiếu hụt vi
chất dinh dưỡng ảnh hưởng hơn hai tỷ người, khoảng một phần ba dân số
thế giới hiện nay. Bất cập về thiếu vi chất dinh dưỡng, đặc biệt là sắt,
kẽm đã được báo cáo ở nhiều nước đang phát triển [116], [122]. Thiếu vi
chất dinh dưỡng là một vấn đề toàn cầu lớn hơn nhiều so với nạn đói và
gây phí tổn rất lớn về xã hội, bệnh tật làm giảm năng suất lao động,
chất lượng cuộc sống kém; Tạo ra vòng luẩn quẩn của suy dinh dưỡng, kém
phát triển và nghèo đói.
WHO
khảo sát giai đoạn 1990-1995, tỷ lệ thiếu máu trẻ em dưới 5 tuổi ở các
nước đang phát triển là 39,0% và ở các nước phát triển 20,1% [136]. Số
liệu WHO giai đoạn 1993-2005 có 47,4% (293,1 triệu) Trẻ em dưới 5 tuổi
trên toàn cầu bị thiếu máu. Châu Phi có 67,6% trẻ thiếu máu, cao nhất
các châu lục.
Đông
Nam Á có 65,5% trẻ thiếu máu. Nhiều nước có tỷ lệ trẻ thiếu máu rất cao
như Burnica Faso 91,5% (2003); Sudan 84,6% (1995); Cộng hòa Trung Phi
84,2% (1999); Ấn Độ 74,3% (2000), Tanzania 71,8%
(2005) [139]. Theo ước tính của các chuyên gia, khoảng 1/3 dân số thế
giới thiếu kẽm, đặc biệt là trẻ em ở các nước đang phát triển, là nguyên
nhân dẫn đến 450.000 trẻ em tử vong hàng năm [129]. Thực trạng thiếu
kẽm cao nhất ở khu vực phía nam Châu Á, châu Phi cận Sahara, Trung Mỹ và
Nam Mỹ [81].
1.1.1.2. Tình hình thiếu dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam
Nước
ta là một trong những nước có tỷ lệ SDDTE dưới 5 tuổi thể nhẹ cân giảm
liên tục từ mức rất cao 51,5% năm 1985 xuống 44,9% năm 1995, mỗi năm
giảm trung bình 0,66% [2]. Từ năm 1995 bắt đầu thực hiện kế hoạch quốc
gia về dinh dưỡng, SDDTE thể nhẹ cân giảm trung bình mỗi năm 1,5%, được
các tổ chức quốc tế thừa nhận và đánh giá cao: Năm 2000 (33,1%) [4], đến
năm 2012 còn 16,2% [69], là mức trung bình theo phân loại của WHO-1997
[136]. Tỷ lệ trẻ thấp còi cũng đã giảm từ 59,7% năm 1985 [31] xuống
29,3% năm 2010, bình quân giảm 1,3% mỗi năm [4] và đến năm 2012 còn mức
trung bình 26,7% [69]. Tỷ lệ trẻ gầy còm hiện nay là 6,7% [69]. SDD nhẹ
cân hiện nay ở nước ta chủ yếu là mức độ vừa (14,5%), còn thể thấp còi
có mức độ vừa (15,5%) Và mức độ nặng (11,2%) [69].
SDDTE
ở nhiều nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt theo giới tính [9],
[10], [32], nhưng lại liên quan chặt chẽ đến nhóm tuổi của trẻ. Một vài
nghiên cứu cho rằng nhóm tuổi bị ảnh hưởng nhiều nhất là 6-24 tháng
[29], [62]. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu lại cho thấy khuynh hướng SDDTE
tăng dần theo nhóm tuổi [13], [16], [24]. Chênh lệch rõ rệt về SDDTE
theo vùng sinh thái: Miền núi thường cao hơn đồng bằng [7], [27]; Nông
thôn cao hơn thành thị [28], [40]. Những vùng có tỷ lệ trẻ nhẹ cân cao
cũng là những vùng có tỷ lệ trẻ thấp còi và gầy còm cao hơn tương ứng
như Tây Nguyên (25%, 36,8%, 8,1%); Vùng miền núi phía Bắc (20,9%, 31,9%,
7,4%) [69]. Ở các thành phố, SDDTE thấp hơn nhiều so với trung bình
chung cả nước, như tỷ lệ nhẹ cân, thấp còi và gầy còm tương ứng ở thành
phố Hồ Chí Minh (5,3%, 7,6%, 3,5%); Hà Nội (8,1%, 16,9%, 3,3%) [69]. Đến
nay, các tỉnh thuộc vùng khó khăn có tỷ lệ trẻ nhẹ cân, thấp còi và gầy
còm cao tương ứng như Kon Tum (26,3%, 40,6%, 9,2%); Hà Giang (23,1%,
35,0%, 7,9%) [69]. Vùng miền núi cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số,
SDDTE luôn cao hơn hẳn các vùng khác [19], [37]. Lê Danh Tuyên và cộng
sự khảo sát năm 2011 tại huyện miền núi Tuyên Hóa, Quảng Bình thấy cả 3
thể đều rất cao: nhẹ cân 57,7%, thấp còi 43,7% và gầy còm 19,2% [62].
Điều tra của Nguyễn Hoàng Linh Chi năm 2011 ở trẻ em 12-36 tháng đồng
bào dân tộc Pakoh và Vân Kiều tại Quảng Trị thấy tỷ lệ SDD rất cao ở 3
thể: Nhẹ cân 53,9%; Thấp còi 67,1% và gầy còm 14,5% [5]. Khu vực duyên
hải miền Trung là một trong những vùng có tỷ lệ trẻ nhẹ cân, thấp còi và
gầy còm tương ứng còn trung bình và cao (19,5%, 31,2%, 7,5%), trong đó
có Quảng Nam (16,0%, 30,1%, 6,8%) [69]. Phân bố SDD ở Quảng Nam cũng
không đồng đều giữa các vùng: Trẻ nhẹ cân (2007) ở Hội An 10,1%, Tam Kỳ
12,4 %; Nam Trà My 31,0% và Bắc Trà My cao nhất tỉnh 32,2% [66].
UNICEF
khảo sát năm 2011 thấy sự thiếu hụt chăm sóc sức khỏe ở người Kinh
31,6%; Mường 46,5%; Thái 77,6% [129]. Báo cáo năm 2011của Tổng cục Thống
kê cho thấy tỷ lệ trẻ nhẹ cân, thấp còi, gầy còm của nhóm đồng bào Kinh
và Hoa (10,0%, 19,6%, 3,8%), thấp hơn hẳn so với tỷ lệ tương ứng của
trẻ em dân tộc thiểu số (22,0%, 40,9%, 5,7%) [89].
Sự
thiếu hụt vi chất dinh dưỡng là một vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng
đồng ở trẻ em Việt Nam dưới 5 tuổi [45], [109]. Nghiên cứu của Nguyễn
Văn Nhiên và cộng sự năm 2008 ở trẻ em nông thôn Việt Nam trước tuổi đến
trường thấy có 55,6% thiếu máu và 86,9% thiếu kẽm [109].
Khảo
sát của Nguyễn Xuân Ninh và cộng sự năm 2008, tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em
dưới 5 tuổi trên toàn quốc là 29,2%; Thấp nhất vùng Đông Nam Bộ (22,8%);
Cao nhất vùng miền núi Tây Bắc (43,0%); Tỉnh Hải Dương có tỷ lệ thấp
nhất (8,7%); Các tỉnh có tỷ lệ rất cao là Tây Ninh (52,7%); Lai Châu
(62,0%) Và cao nhất là Quảng Nam (67,3%) [45]. Tình trạng thiếu máu
thiếu sắt thường kèm theo thiếu axit folic [4], [68]. Axit folic cần
thiết cho sự phát triển và phân chia tế bào của người, động vật, thực
vật và cần thiết cho sự hình thành của tế bào máu, đặc biệt trong cấu
tạo và phát triển hệ thống thần kinh của thai nhi. Mỗi năm trên thế giới
có tới 400.000 trẻ sinh ra có dị tật ống thần kinh. Nguyên nhân cụ thể
gây ra dị tật này có liên quan đến cả yếu tố di truyền và môi trường,
đồng thời liên quan với vấn đề thiếu hụt axit folic. Thiếu axit folic là
nguyên nhân làm của khoảng 3000-4000 trẻ em Việt Nam sinh ra mắc các dị
tật bẩm sinh ống thần kinh rất nghiêm trọng như nứt đốt sống, não ủng
thủy, thai vô sọ [68].
1.1.2. Nguyên nhân và hậu quả suy dinh dưỡng trẻ em
1.1.2.1. Nguyên nhân suy dinh dưỡng trẻ em
- Thiếu dinh dưỡng
Thiếu
dinh dưỡng là nguyên nhân chiếm 60% SDDTE. Thiếu dinh dưỡng có thể xảy
ra do giảm cung cấp chất dinh dưỡng, tăng tiêu thụ dưỡng chất hoặc cả
hai. Giảm cung cấp chủ yếu là do chế độ ăn của trẻ không đủ cả về số
lượng lẫn chất lượng, thiếu năng lượng, protein cùng các VCDD, trong đó
có sắt, axit folic, kẽm; Trẻ biếng ăn, ăn không đủ nhu cầu và thức ăn
chế biến không phù hợp, năng lượng thấp. Tăng tiêu thụ khi trẻ ốm, thất
thoát chất dinh dưỡng do bệnh lý. Trong đa số trường hợp, SDD xảy ra do
sự kết hợp của cả 2 cơ chế, vừa giảm năng lượng ăn vào, vừa tăng năng
lượng tiêu hao [64], [88], [124]. Trong thời kỳ 6 tháng đầu, trẻ em
không được bú sữa mẹ hay sữa mẹ bị thiếu, cho trẻ ăn bổ sung quá sớm, bộ
máy tiêu hóa trẻ chưa thể hấp thu tốt được. Thời kỳ khi được 6 tháng
tuổi trở đi, trẻ ăn bổ sung với chế độ ăn không đảm bảo đủ năng lượng,
protein. Ăn quá kiêng khem trong thời gian trẻ bị bệnh, nhất là khi bị
ỉa chảy. Nguyên nhân sâu xa là do bà mẹ thiếu kiến thức và hạn chế về
thực hành nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ [1], [9], [99]. Nghiên cứu của Lê Thị
Hợp, Hà Huy Khôi thấy khi thiếu ăn tạm thời cơ thể tăng trưởng chậm lại
nhưng tình trạng đó có thể được phục hồi khi ăn đầy đủ. Tuy nhiên trong
trường hợp dinh dưỡng không hợp lý kéo dài có thể cản trở quá trình
phục hồi đó. Vì thế cần quan tâm đặc biệt đến dinh dưỡng trẻ em [22].
Theo UNICEF, khác biệt về sự phát triển của trẻ em đến năm tuổi có nhiều
ảnh hưởng bởi dinh dưỡng, cách nuôi dưỡng, môi trường và chăm sóc sức
khỏe hơn so với yếu tố di truyền hoặc dân tộc [126].
- Nhiễm trùng
Từ
lâu, người ta đã thừa nhận các bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng là
nguyên nhân trực tiếp dẫn đến SDDTE, đặc biệt là tiêu chảy, nhiễm giun,
nhiễm khuẩn hô hấp cấp là các bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ. Nhiều tác giả
đã mô tả mối tác động qua lại giữa nhiễm trùng và SDD như một vòng xoắn
bịnh lý [85], [86]. Khi các vi sinh vật gây bệnh xâm nhập vào cơ thể,
với sức đề kháng còn yếu, trẻ em dễ bị SDD do nhiễm trùng làm mất các
chất dinh dưỡng và tác động gián tiếp làm trẻ em chán ăn. Mặt khác, trẻ
SDD có hệ thống miễn dịch bị giảm sút, dễ mắc bệnh nhiễm trùng và hậu
quả SDD ngày một nặng thêm [133]. SDD làm tăng khả năng nhiễm khuẩn hô
hấp, tiêu chảy và kéo dài thời gian tiêu chảy ở trẻ em [72], [136].
Nghiên cứu của Caulfield L. E. Và cộng sự năm 2004 cho thấy SDDTE liên
quan đến 1 triệu ca viêm phổi, 8 trăm nghìn ca tiêu chảy hàng năm ở các
nước đang phát triển [83]. Tình hình nhiễm giun cũng là vấn đề sức khỏe
cộng đồng nổi cộm với khoảng 2 tỷ người bị nhiễm các loại giun truyền
qua đất (giun đũa, giun móc, giun tóc, giun kim), trong đó trẻ em dưới 5
tuổi chiếm từ 10-20% theo nghiên cứu của Albonico M. Và cộng sự năm
2008 [73]. Nhiễm giun truyền qua đất là nhiễm trùng mạn tính ảnh hưởng
đến phát triển thể chất, tinh thần, thiếu máu thiếu sắt [112] và giảm
đáp ứng miễn dịch ở trẻ em bị nhiễm bệnh [33]. Ở Việt Nam, tỷ lệ nhiễm
giun chung dao động rất lớn từ 17,0-97,0%, tùy theo lứa tuổi và vùng
sinh thái, trong đó tỷ lệ nhiễm giun ở phụ nữ và trẻ em vùng cư dân nông
nghiệp rất cao [33]. Nghiên cứu của Phạm Trung Kiên, Hoàng Tân Dân ở
trẻ em 3-60 tháng tuổi tại xã Hoàng Tây, Kim Bảng,Hà Nam năm 1994 thấy
tỷ lệ trẻ nhiễm giun chung 93,4%; Nhiễm giun đũa 85,3% và giun tóc 69,5%
[33]. Điều tra của Nguyễn Hoàng Linh Chi ở huyện Dakrong, Quảng Trị năm
2011 thấy tỷ lệ trẻ nhiễm giun chung 31,6%; Nhiễm giun đũa 24,6%; Giun
móc 6,5% và giun tóc 6,2% [5].
- Các nguyên nhân khác
Trẻ
bị dị tật bẩm sinh như sứt môi, hở hàm ếch, hẹp phì đại môn vị, tim bẩm
sinh, Langdon down, SDD bào thai, đẻ non [64]. Theo số liệu thống kê
của WHO năm 2009, nhiều nước ở khu vực châu Phi và châu Á có tỷ lệ sơ
sinh thấp cân rất cao như: Mauritania 34,0%, Yemen 32%,Pakistan 32,0%,
India 28,0%, Niger 27,0%, Haiti 25,0%, Comoros 25,0% [141]. Tại Việt
Nam, tỷ lệ sơ sinh thấp cân năm 2006 là 7% [126], cao hơn khu vực Đông
Nam Á (6%), nhưng thấp hơn nhiều so với tỷ lệ chung của thế giới (15%)
[126]. Nghiên cứu của Nguyễn Đỗ Huy và cộng sự [26],Trương Đức Tú [59]
đều thấy ở nhóm trẻ có tình trạng dinh dưỡng tốt có cân nặng sơ sinh cao
hơn có ý nghĩa so với nhóm trẻ SDD.
-----------------------------------------------Luận án tiến sĩ y học gồm 174Tr với nội dung như sau:
MỤC LỤC
Chương 1 TỔNG QUAN
1.1. THỰC TRẠNG SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI
1.1.1. Tình hình thiếu dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi
1.1.2. Nguyên nhân và hậu quả suy dinh dưỡng trẻ em
1.2. CÁC TIẾP CẬN CAN THIỆP PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG
1.2.1. Tiếp cận can thiệp cải thiện bữa ăn
1.2.2. Tiếp cận can thiệp bổ sung vi chất dinh dưỡng
1.2.3. Tiếp cận can thiệp cải thiện dịch vụ y tế
1.2.4. Xã hội hóa chăm sóc dinh dưỡng
1.2.5. Chăm sóc dinh dưỡng trẻ em dân tộc thiểu số Việt Nam
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Đối tượng
2.1.2. Địa điểm
2.1.3. Thời gian
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
2.2.2. Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu
2.2.3. Phương pháp đo lường các chỉ số
2.2.4. Các bước tiến hành nghiên cứu
2.2.5. Xử lý và phân tích số liệu nghiên cứu
2.2.6. Kỹ thuật hạn chế sai số
2.2.7. Hạn chế của nghiên cứu
2.2.8. Đạo đức nghiên cứu
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. TÌNH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN BẮC TRÀ MY
3.1.1. Tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc thiểu số
3.1.2. Các yếu tố liên quan suy dinh dưỡng trẻ em
3.2. KẾT QUẢ CAN THIỆP PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN BẮC TRÀ MY
3.2.1. Hoạt động can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em
3.2.2 Kết quả can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em
Chương 4 BÀN LUẬN
4.1. TÌNH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN BẮC TRÀ MY
4.1.1. Tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc thiểu số
4.1.2. Các yếu tố liên quan suy dinh dưỡng trẻ em
4.2. KẾT QUẢ CAN THIỆP PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN BẮC TRÀ MY
4.2.1. Hoạt động can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em
4.2.2. Kết quả can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CI Khoảng tin cậy (Confident Interval)
CSHQ Chỉ số hiệu quả
CTVDD Cộng tác viên dinh dưỡng
DTTS Dân tộc thiểu số
FAO Tổ chức Thực phẩm và Nông nghiệp thế giới (Food and Agriculture Organization)
GDTTTC Giáo dục truyền thông tích cực
HQCT Hiệu quả can thiệp
NCT Nhóm can thiệp
NCUT Người có uy tín
NĐC Nhóm đối chứng
OR Tỷ suất chênh (Odds Ratio)
SCT Sau can thiệp
SD Độ lệch chuẩn (Standard Deviation)
SDD Suy dinh dưỡng
SDDTE Suy dinh dưỡng trẻ em
TB Trung bình
TCT Trước can thiệp
TPSC Thực phẩm sẵn có
UNICEF Quỹ Nhi đồng liên hiệp quốc (United Nations Child’ Fund)
VDD Viện Dinh dưỡng
WHO Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Phân loại suy dinh dưỡng theo mức độ của WHO-1997Bảng 3.1. Tỷ lệ hiện mắc suy dinh dưỡng theo thể
Bảng 3.2. Tỷ lệ trẻ nhẹ cân theo mức độ
Bảng 3.3. Tỷ lệ trẻ thấp còi theo mức độ
Bảng 3.4. Tỷ lệ trẻ thấp còi theo nhóm tuổi
Bảng 3.5. Liên quan giữa các đặc điểm chung với trẻ nhẹ cân
Bảng 3.6. Liên quan giữa bệnh tật trẻ với thể nhẹ cân
Bảng 3.7. Liên quan giữa kiến thức nuôi con của bà mẹ với trẻ nhẹ cân
Bảng 3.8. Liên quan giữa thực hành bà mẹ nuôi con với trẻ nhẹ cân
Bảng 3.9. Liên quan giữa niềm tin người có uy tín của bà mẹ với SDDTE
Bảng 3.10. Các yếu tố liên quan suy dinh dưỡng trẻ em qua phân tích hồiquy logistic đa biến
Bảng 3.11. Thống nhất kế hoạch can thiệp phòng chống SDDTE
Bảng 3.12. Các hoạt động can thiệp phòng chống SDDTE đã triển khai
Bảng 3.13. Kinh nghiệm sử dụng thực phẩm sẵn có giàu đạm ở địa phương
Bảng 3.14. Đặc điểm các yếu tố giữa 2 nhóm trước can thiệp
Bảng 3.15. NCT cải thiện hiểu biết về chất béo của bà mẹ
Bảng 3.16. NĐC cải thiện hiểu biết về chất béo của bà mẹ
Bảng 3.17. Cải thiện hiểu biết về chất béo của bà mẹ sau can thiệp
Bảng 3.18. Cải thiện hiểu biết của bà mẹ về nhóm rau quả
Bảng 3.19. NCT cải thiện hiểu biết nuôi con của bà mẹ
Bảng 3.20. NĐC cải thiện hiểu biết nuôi con của bà mẹ
Bảng 3.21. Cải thiện hiểu biết nuôi con của bà mẹ sau can thiệp
Bảng 3.22. NCT cải thiện thực hành nuôi con của bà mẹ
Bảng 3.23. NĐC cải thiện thực hành nuôi con của bà mẹ
Bảng 3.24. Cải thiện thực hành nuôi con của bà mẹ sau can thiệp
Bảng 3.25. Thực hành nuôi con ăn bổ sung sai của bà mẹ ở 2 nhóm
Bảng 3.26. NCT cải thiện niềm tin của bà mẹ với trưởng thôn, già làng
Bảng 3.27. NĐC cải thiện niềm tin của bà mẹ với trưởng thôn, già làng
Bảng 3.28. Cải thiện niềm tin của bà mẹ với trưởng thôn, già làng SCT
Bảng 3.29. Niềm tin bà mẹ với lãnh đạo xã ở 2 nhóm
Bảng 3.30. NCT cải thiện niềm tin của bà mẹ với người có uy tín địa phương
Bảng 3.31. NĐC cải thiện niềm tin của bà mẹ với người có uy tín địaphương
Bảng 3.32. Cải thiện niềm tin của bà mẹ với người có uy tín địa phương
Bảng 3.33. NCT cải thiện nhiễm khuẩn hô hấp cấp so với trước can thiệp
Bảng 3.34. NĐC cải thiện nhiễm khuẩn hô hấp cấp so với ban đầu
Bảng 3.35. Cải thiện nhiễm khuẩn hô hấp cấp trẻ em sau can thiệp
Bảng 3.36. Nhóm can thiệp cải thiện trẻ nhẹ cân so với trước can thiệp
Bảng 3.37. Nhóm đối chứng cải thiện trẻ nhẹ cân so với ban đầu
Bảng 3.38. Cải thiện suy dinh dưỡng thể nhẹ cân trẻ em sau can thiệp
Bảng 3.39. Sự lên kênh suy dinh dưỡng thể nhẹ cân sau can thiệp
Bảng 3.40. Nhóm can thiệp cải thiện trẻ thấp còi so với trước can thiệp
Bảng 3.41. Nhóm đối chứng cải thiện trẻ thấp còi so với ban đầu
Bảng 3.42. Cải thiện suy dinh dưỡng thể thấp còi trẻ em sau can thiệp
Bảng 3.43. Sự lên kênh suy dinh dưỡng thể thấp còi sau can thiệp
Bảng 3.44. Suy dinh dưỡng thể gầy còm của trẻ ở 2 nhóm
Bảng 3.45. Cải thiện cân nặng trung bình của trẻ ở 2 nhóm
Bảng 3.46. Cải thiện chiều cao trung bình của trẻ của 2 nhóm
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Phân bố tình trạng dinh dưỡng thể thấp còi theo giới
Biểu đồ 3.2. Liên quan giữa nhiễm khuẩn hô hấp cấp với trẻ nhẹ cân
Biểu đồ 3.3. Liên quan giữa niềm tin bà mẹ về NCUT với trẻ nhẹ cân
Biểu đồ 3.5. Tỷ lệ trẻ ăn bổ sung thiếu thực phẩm sẵn có giàu đạm hàngngày ở 2 nhóm
Biểu đồ 3.6. Tỷ lệ trẻ ăn bổ sung thiếu thực phẩm sẵn có giàu chất béohàng ngày
Biểu đồ 3.8. Tỷ lệ bà mẹ có niềm tin hội phụ nữ ở 2 nhóm
Biểu đồ 3.9. Tỷ lệ thiếu máu lâm sàng trẻ em ở 2 nhóm
Biểu đồ 3.10. Tỷ lệ trẻ thấp còi theo nhóm tuổi trước và sau can thiệp
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Khung lý thuyết nghiên cứu dựa vào mô hình chẩn đoán hành vi
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ thiết kế các bước tiến hành nghiên cứu
Sơ đồ 3.1. Tổ chức mạng lưới hoạt động can thiệp
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.
Dinh Dao, Vo Van Thang, Do Thi Hoa (2010), “Malnutrition status and
related factors within ethnic minority children under 5-year-old in
North Tra My district, Quang Nam province in 2010”, Journal of sciene,
Hue University, Medicine & pharmacy issue, 27 (61), pp. 39-49.
2.
Đinh Đạo, Đỗ Thị Hòa, Võ Văn Thắng (2011), “Hiệu quả bước đầu phòng
chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc thiểu số dựa vào các
chức sắc uy tín tại huyện Bắc Trà My, Quảng Nam năm 2011”, Tạp chí Y học
thực hành, số 11 (791), tr. 50-54.
3.
Đinh Đạo, Đỗ Thị Hòa, Võ Văn Thắng (2013), “Hiệu quả của truyền thông
giáo dục tích cực đến sự cải thiện kiến thức, thực hành nuôi con của bà
mẹ và tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc thiểu số huyện
Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam ”, Tạp chí Y học thực hành, số 880, tr.
172-177.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Nguyễn Thị Hải Anh, Lê Thị Hợp (2006), “Tình trạng dinh dưỡng và một số
yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tỉnh Lào Cai năm
2005”, Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm, 2 (3+4), tr. 29-35.
2. Bộ Y tế (2001), Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2001 2010, Ban hành kèm theo Quyết định số 21/2001/QĐ-TTg, ngày
22/02/2001 của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội, tr. 12-29.
3. Bộ Y tế , WHO, UNICEF (2002), Hướng dẫn xử trí lồng ghép các bệnh thường gặp ở trẻ em, Hà Nội, tr. 02-35.
4. Bộ Y tế (2012), Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2010 2020, tầm nhìn đến 2030, Ban hành kèm theo Quyết định số
226/QĐ/Ttg, ngày 22/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội, tr. 18-28.
5.
Nguyễn Hoàng Linh Chi (2011), Tình trạng dinh dưỡng, nhiễm giun và một
số yếu tố liên quan của trẻ em 12-36 tháng tuổi tại huyện Đakrông tỉnh
Quảng Trị, Khóa luận tốt nghiệp bác sĩ khoa, Đại học Y Hà Nội, tr.
68-69.
6.
Nguyễn Thị Cự (2011), “Nghiên cứu tác động của bổ sung kẽm đến tình
trạng mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp và tiêu chảy của trẻ dưới 5 tuổi
bị SDD tại xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế”, Tạp chí Y Dược
học, số 02/2011, Huế, tr. 91-98.
7.
Đinh Đạo (1998), Đánh giá sự cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em
dưới 5 tuổi qua việc cải tiến cách giáo dục dinh dưỡng cho bà mẹ ở xã
Liên Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, Luận văn thạc sĩ y tế công
cộng, Trường Cán bộ quản lý y tế Hà Nội, tr. 61-62.
8.
Đinh Đạo, Đỗ Thị Hòa (2009), “Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5
tuổi và thực hành nuôi con của các bà mẹ tại huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng
Nam năm 2007”, Tạp chí Y học thực hành, số 6 (664), tr. 27-29.
9.
Đinh Đạo, Đinh Thanh Huề (2009), “Tình hình suy dinh dưỡng ở trẻ em
dưới 5 tuổi người dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam năm
2009”, Tạp chí Y học thực hành, số 6 (666), tr. 51-52.
10.
Lương Thị Thu Hà, Nguyễn Văn Sơn, Nguyễn Minh Tuấn (2008), “Thực trạng
suy dinh dưỡng thiếu calo protein ở trẻ em dưới 5 tuổi tại hai xã của
huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên năm 2006”, Tạp chí Y học thực hành, số 5
(608-609), tr. 75-77.
11.
Nguyễn Thanh Hà (2011), Hiệu quả bổ sung kẽm và sprinkles đa vi chất
trên trẻ 6-36 tháng tuổi suy dinh dưỡng thấp còi tại huyện Gia Bình,
tỉnh Bắc Ninh, Luận án tiến sĩ dinh dưỡng cộng đồng, VDD, Hà Nội, tr.
119-120.
12.
Nguyễn Thị Hải Hà (2012), Nghiên cứu công nghệ sản xuất và đánh giá
hiệu quả của sản phẩm giàu lyzin và vi chất dinh dưỡng đến tình trạng
dinh dưỡng và bệnh tật của trẻ 6-12 tháng tuổi, Luận án tiến sĩ dinh
dưỡng cộng đồng, VDD, Hà Nội, tr. 114-115.
13.
Trần Văn Hà, Phạm Văn Phú, Phạm Duy Tường (2008), “Thực trạng suy dinh
dưỡng thể thấp còi, thể gầy còm và một số yếu tố liên quan tại xã Việt
Long và Phù Ninh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội”, Tạp chí Y học thực
hành, (585), tr. 119-123.
14.
Trần Minh Hậu (1995), Thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi và hiệu
quả của một số biện pháp can thiệp tại 5 xã ở Thái Bình, Tóm tắt luận
án phó tiến sĩ khoa học y dược, Đại học Y Hà Nội, tr. 22-23.
15.
Nguyễn Thị Như Hoa (2011), Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên
quan của trẻ em dưới 5 tuổi huyện Yên Thủy tỉnh Hòa Bình, Khóa luận tốt
nghiệp bác sĩ y khoa, Đại học Y Hà Nội, tr. 57.
16.
Đỗ Thị Hòa, Hà Huy Khôi, Nguyễn Thị Hiền (2003), “Hiệu quả của bánh
bisqui đã bổ sung vitamin A, sắt trong việc cải thiện tình trạng phát
triển thể lực của học sinh tiểu học”, Tạp chí Y học thực hành, số 6
(455), tr. 21-26.
17.
Đỗ Thị Hòa, Trần Xuân Bách, Trần Thị Hoàng Long (2008), “Tình trạng
dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ở một số xã của hai huyện Chợ Đồn và Ngân
Sơn tỉnh Bắc Kạn năm 2006”, Tạp chí Y học thực hành, 608+609 (5), tr.
63-67.
18.
Phạm Văn Hoan, Doãn Đình Chiến (2006), “Kiến thức, thực hành dinh dưỡng
của bà mẹ và tình trạng dinh dưỡng bà mẹ, trẻ em sau 10 năm triển khai
các hoạt động can thiệp liên ngành tại huyện điểm Thường Tín, Hà Tây”,
Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm, 2(1), tr. 65-71.
19.
Phạm Văn Hoan (2008), “Cải thiện kiến thức, thực hành của người chăm
sóc và tình trạng dinh dưỡng trẻ em thông qua can thiệp khả thi tại vùng
khó khăn tỉnh Quảng Bình”, Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm, 4(2), tr.
33-39.
20.
Phạm Văn Hoan, Nguyễn Thanh Hà, Nguyễn Xuân Ninh (2010), “Sử dụng
Sprinkles trong phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng trẻ em”, Tạp chí
Dinh dưỡng và thực phẩm, 6(2), tr. 1-9.
21.
Lưu Ngọc Hoạt (2009), Một số sai sót thường gặp trong nghiên cứu y học,
Tài liệu giảng dạy Viện Y học dự phòng và Y tế công cộng, Đại học Y Hà
Nội, tr. 12-16.
22.
Lê Thị Hợp, Hà Huy Khôi (2010), “Xu hướng tăng trưởng thế tục của người
Việt Nam và định hướng của Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng trong giai
đoạn 2011-2020”, Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm, tập 6, số 2+4, tr.
5-6.
23.
Lê Thị Hợp, Trần Thị Lụa, Hà Huy Tuệ, Đỗ Thị Phương Hà và cộng sự
(2011), “Hiệu quả của bổ sung sữa giàu năng lượng PediaPlus đến tình
trạng dinh dưỡng và vi chất dinh dưỡng của trẻ em 36-72 tháng tuổi vùng
nông thôn”, Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm, tập 7, số 2, tr. 48-51.
24.
Đinh Thanh Huề (2005), “Nghiên cứu tình hình suy dinh dưỡng và các yếu
tố liên quan ở trẻ dưới 5 tuổi huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh năm 2003”,
Tạp chí Y học thực hành, số 1 (502), tr. 33-36.
25. Đinh Thanh Huề (2005), Phương pháp dịch tễ học, Nhà xuất bản Y học, tr. 85-92.
26.
Nguyễn Đỗ Huy, Lê Thị Hợp, Lê Danh Tuyên, Nguyễn Đức Vinh (2010), “Tình
hình cân nặng sơ sinh và một số vấn đề liên quan ở Việt Nam hiện nay”,
Tạp chí Y học thực hành số 5 (715), 2010, tr. 87-90.
27.
Phạm Hoàng Hưng (2008), Hiệu quả của truyền thông tích cực đến đa dạng
hóa bữa ăn và tình trạng dinh dưỡng bà mẹ, trẻ em, Luận án tiến sĩ dinh
dưỡng cộng đồng, VDD, Hà Nội, tr. 143-145.
28.
Vũ Thị Thanh Hương (2010), Đặc điểm tăng trưởng và hiệu quả bổ sung sản
phẩm giàu dinh dưỡng trên trẻ từ sơ sinh đến 24 tháng tuổi tại huyện
Sóc Sơn, Hà Nội, Tóm tắt luận án tiến sĩ dinh dưỡng cộng đồng, VDD, Hà
Nội, tr. 23-25.
29. Nguyễn Công Khẩn, Lê Danh Tuyên, Hà Huy Khôi, Phạm Văn Hoan và cs (2007), “Tiến triển suy dinh dưỡng trẻ em từ năm 1990-2004”, Tạp chí Y học Việt Nam, (337), tr. 16-22.
30.
Khoa Y tế công cộng-Trường Đại học Y Hà Nội (2004), Phương pháp nghiên
cứu khoa học trong y học và sức khỏe cộng đồng, Nhà xuất bản Y học, tr.
18-22, 58-94.
31.
Hà Huy Khôi, Nguyễn Công Khẩn (2008), “Tính thời sự của suy dinh dưỡng
thể thấp còi và hỗ trợ gia tăng tăng trưởng ở người Việt Nam”, Tạp chí
Dinh dưỡng và thực phẩm, tập 4, số 1, tr. 03-07.
32.
Phạm Huy Khôi (2005), Nhận xét tình hình suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5
tuổi tại huyện Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa năm 2005, Luận án chuyên khoa cấp
II, chuyên ngành quản lý y tế, Đại học Y Dược Huế, tr. 89-90.
33.
Phạm Trung Kiên, Hoàng Tân Dân (2010), “Hiệu quả một số biện pháp tác
động đến bệnh giun truyền qua đất ở trẻ em từ 3-60 tháng tuổi tại xã
Hoàng Tây, Kim Bảng, Hà Nam”, Tạp chí Y học thực hành, số 5 (715), tr.
29-31.
34.
Phạm Trung Kiên, Lê Thị Nga (2010), “Nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em
dân tộc Sán Dìu và H’Mông tại 2 xã miền núi phía Bắc Việt Nam”, Tạp chí Y
học thực hành, số 3 (708), tr. 31-33.
35.
Trần Thị Lan (2013), Hiệu quả của bổ sung đa vi chất dinh dưỡng và tẩy
giun ở trẻ em 12-36 tháng tuổi suy dinh dưỡng thấp còi người dân tộc Vân
Kiều và Pakoh huyện Đakrong, tỉnh Quảng Trị, Luận án tiến sĩ dinh dưỡng
cộng đồng, VDD, Hà Nội, tr. 136-137.
36.
Hoàng Khải Lập, Hà Xuân Sơn, Nguyễn Minh Tuấn (2006), “Hiệu quả cải
thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em bằng giáo dục dinh dưỡng cộng đồng
cho các bà mẹ tại xã Nga My, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”, Tạp chí
Dinh dưỡng và thực phẩm, tập 2, số 3+4, tr. 36-42.
37.
Hoàng Khải Lập, Nguyễn Minh Tuấn, Lê Ngọc Bảo (2008), “Tình trạng dinh
dưỡng và mối liên quan với tập quán nuôi dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi dân
tộc sán chay tại Thái Nguyên”, Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm, 4(3+4),
tr. 85-92.
38.
Hoàng Thị Liên (2005), Nghiên cứu tình hình suy dinh dưỡng trẻ dưới 5
tuổi sau 5 năm thực hiện chương trình phòng chống suy dinh dưỡng tại xã
Thủy Phù, Luận án chuyên khoa cấp II, chuyên ngành quản lý y tế, Đại học
Y Dược Huế, tr. 83-84.
39.
Hồ Thu Mai, Phạm Thị Thúy Hòa và CS (2010), “Hiệu quả của Ferlin lên
tình trạng thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ 6-23 tháng tại một số xã huyện Yên
Thế, tỉnh Bắc Giang”, Tạp chí Y học thực hành, số 3 (708), tr. 58-61.
40.
Dương Công Minh và cộng sự (2010), “Hiệu quả của mô hình thử nghiệm can
thiệp phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ dưới 5 tuổi tại một xã thuộc
thành phố Hồ Chí Minh (từ tháng 9/2008 đến tháng
10/2009)”, Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm, tập 6 (3+4), tr. 117-124.
41.
Phan Bích Nga (2012), Thiếu vi chất dinh dưỡng ở mẹ và con và hiệu quả
bổ sung đa vi chất trên trẻ suy dinh dưỡng bào thai tại bệnh viện Phụ
sản Trung ương, Luận án tiến sĩ dinh dưỡng cộng đồng, VDD, Hà Nội, tr.
119-120.
42.
Nông Văn Ngọ, Phạm Trung Kiên, Trịnh Hoàng Hà (2012), “Kết quả bổ sung
dinh dưỡng bằng sữa đậu nành cho trẻ em tại huyện Yên Sơn, Tuyên Quang”,
Tạp chí Y học thực hành, số 2 (806), tr. 48-50.
43.
Phan Thị Bích Ngọc, Phạm Văn Nhu (2009), “Nghiên cứu tình hình tiêu
chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Nghĩa An-huyện Tư Nghĩa-tỉnh Quảng Ngãi
năm 2007”, Tạp chí Y học thực hành, số 2 (644+645), tr. 3-4.
44.
Nguyễn Xuân Ninh, Nguyễn Anh Tuấn (2008), “Hiệu quả của bổ sung sữa
giàu prebiotic đến tình trạng tiêu hóa, vi chất dinh dưỡng ở trẻ 24-46
tháng tuổi”, Tạp chí Y học thực hành, số 1 (594+595), tr. 87-91.
45.
Nguyễn Xuân Ninh, Nguyễn Thanh Hương, Phạm Thị Ngần, Nguyễn Anh Tuấn,
Đặng Trường Duy, Lê Danh Tuyên (2010), “Thiếu vitamin A tiền lâm sàng,
thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam-năm 2008”, Tạp chí Dinh
dưỡng và thực phẩm, tập 6 (3+4), tr. 65-71.
46.
Lê Phán (2008), Đánh giá kết quả phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới
5 tuổi dân tộc thiểu số tại 4 xã đặc biệt khó khăn huyện Khánh Vĩnh
tỉnh Khánh Hòa, Luận án chuyên khoa cấp II, chuyên ngành quản lý y tế,
Đại học Y Dược Huế, tr. 93-94.
47. Phòng thống kê huyện Bắc Trà My (2012), Niên giám thống kê 2011 huyện Bắc Trà My, tr. 19, 24, 138-140.
48.
Phou Sophal, Phạm Văn Phú, Phạm Duy Tường, Trần Chí Liêm (2008), “Thay
đổi tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi sau can thiệp truyền
thông giáo dục nhóm nhỏ”, Tạp chí Y học thực hành, số 12 (633 + 634),
tr. 17-20.
49.
Phạm Văn Phú (2007), Nghiên cứu giải pháp cải thiện chất lượng thức ăn
bổ sung dựa vào nguồn nguyên liệu địa phương ở một vùng nông thôn tỉnh
Quảng Nam, Luận án tiến sĩ y học, Đại học Y Hà Nội, tr. 133-134.
50.
Huỳnh Nam Phương (2011), Tiếp thị xã hội với việc bổ sung sắt cho phụ
nữ có thai dân tộc Mường, Luận án tiến sĩ dinh dưỡng cộng đồng, VDD, Hà
Nội, tr. 129-130.
51.
Võ Thị Kiều Phượng (2008), Nghiên cứu tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở
trẻ em dưới 5 tuổi huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, Luận án chuyên khoa cấp
II, chuyên ngành quản lý y tế, Trường Đại học Y Dược Huế, tr. 85-86.
52.
Võ Văn Thắng, Đào Văn Dũng (2005), “Mô hình can thiệp nâng cao sử dụng
dịch vụ chăm sóc thai sản-kế hoạch hóa gia đình tại 7 xã nghèo, huyện
Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế”, Tạp chí Y học thực hành, số 8 (517), tr.
70-74.
53.
Võ Văn Thắng, Đoàn Phước Thuộc (2011), Đánh giá các hoạt động y tế,
Giáo trình giảng dạy sau đại học, Trường Đại học Y-Dược Huế, tr. 56-67.
54.
Võ Văn Thắng, Hoàng Đình Huề (2011), Sử dụng phần mềm thống kê SPSS,
Giáo trình đào tạo đại học và sau đại học trong ngành Y, Nhà xuất bản
Đại học Huế, tr. 85-104.
55. Nguyễn Thị Thu (2005), Khoa học hành vi và giáo dục sức khỏe, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 24-45.
56.
Thủ tướng Chính phủ (2006), Phê duyệt danh sách xã đặc biệt khó khăn,
xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư Chương trình phát triển
kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền
núi giai đoạn 2006-2010 (Chương trình 135 giai đoạn II), Ban hành kèm
theo Quyết định số 164/2006/QĐ/Ttg ngày 11/7/2006 của Thủ tướng Chính
phủ, Hà Nội, tr. 1-5.
57. Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định số: 18/2011/QĐ-TTg ngày
18/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, Hà Nội, tr. 1-3.
58.
Nguyễn Thị Thanh Thuấn, Phạm Văn Phú (2010), “Tình trạng dinh dưỡng và
một số yếu tố ảnh hưởng ở trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc Tày tại huyện Chiêm
Hóa, Tuyên Quang”, Tạp chí Y học thực hành, số 9 (732), tr. 105-107.
59.
Trương Đức Tú (2006), Nghiên cứu tình hình suy dinh dưỡng và các yếu tố
liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi huyện Dakrong, Quảng Trị 2005. Luận án
chuyên khoa cấp II, chuyên ngành quản lý y tế, Đại học Y Dược Huế, tr.
75-76.
60.
Nguyễn Minh Tuấn (2009), Huy động nguồn lực cộng đồng chăm sóc dinh
dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc Sán Chay tại Thái Nguyên, Luận án tiến
sĩ y học, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Hà Nội, tr. 48-49, 123-124.
61.
Lê Danh Tuyên, Lê Thị Hợp, Nguyễn Công Khẩn, Hà Huy Khôi (2010), “Xu
hướng tiến triển suy dinh dưỡng thấp còi và các giải pháp can thiệp
trong giai đoạn mới 2011-2020”, Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm, tập 6,
số 3+4-2010, tr. 15-24.
62.
Lê Danh Tuyên, Lê Thị Hợp, Nguyễn Hồng Trường (2012), “Ảnh hưởng của lũ
lụt đến tình trạng dinh dưỡng và khẩu phần ăn trẻ em tỉnh Quảng Bình”,
Tạp chí Y học thực hành, số 4 (815), tr. 15-18.
63.
Trần Văn Tuyến, Phạm Trung Kiên, Trịnh Hoàng Hà (2012), “Công tác phòng
chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc
Kạn”, Tạp chí Y học thực hành, số 2 (806), tr. 53-55.
64. Phạm Duy Tường (2010), Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, tr. 40-46, 75-82.
65.
Uỷ ban dân tộc (2012), Các chuyên đề nghiên cứu và bài tham luận hội
thảo tại Hà Giang, Gia Lai. Thực hiện dự án: điều tra về vị trí, vai trò
của người có uy tín trong dân tộc thiểu số đối với công tác dân tộc và
thực hiện chính sách dân tộc thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và hội nhập quốc tế, Hà Nội, tr. 65-74.
66.
Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam (2008), Báo cáo tổng kết hoạt động dự án
phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em năm 2007 và kế hoạch hoạt động năm
2008 tỉnh Quảng Nam, Báo cáo tại hội nghị tổng kết công tác phòng chống
SDDTE năm 2007, tr. 9-10.
67.
Lê Hữu Uyển, Nguyễn Văn Tập (2009), “Nghiên cứu tình hình suy dinh
dưỡng và các yếu tố liên quan ở TE<5T đồng bào dân tộc thiểu số tại
huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa”, Tạp chí nghiên cứu Y học, tập 63, số
4, tr. 116-120.
68. Viện Dinh dưỡng-UNICEF (2011), Tình hình dinh dưỡng Việt Nam năm 2009-2010, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 6-7, 15-25.
69. Viện Dinh dưỡng, Tổng cục Thống kê (2013), “Số liệu suy dinh dưỡng trẻ em năm 2012”
70.
Abel H. I., Mwate M., Veronica M. (2011), “Diarrhea is a Major killer
of Children with Severe Acute Malnutrition Admitted to Inpatient Set up
in Lusaka, Zambia”, Nutrition Journal, Oxford, United Kingdom, 10:110,
pp. 1-2, 9-10.
71.
Abiodin P.O. (2008), “Use of Soya-Beans for the dietary prevention and
management of malnutrition in Nigeria”, Acta Paediatrica, 80, pp.
175-182.
72.
Adelheild W., Onyango (2003), “Dietary diversity, child nutrition and
health in contemporary African commmunities”, Biochemistry and
Physiology, Part A 136, pp. 61-69.
73.
Albonico M. (2008), “Controlling Soil-Transmitted Helminthiasis in
Pre-School-Age Children through Preventive Chemotherapy”, Journal
Plosntd, 126, pp. 1-9.
74.
Alcaraz G., et al (2008), “Nutritional status and living conditions in
children in an urban area of Turbo, Antioquia, Colombia”, Biomedica,
28(1), pp. 87-88.
75. Alessandra M., Gragnolati M. (2003), “Malnutrition and Poverty in Guatemala”, Policy Research Working Paper 2967, The World Bank, Washington, D.C., pp. 2, 9.
76.
Arimond M., Ruel M.T. (2003), Generating Indicators of Appropriate
Feeding of Children 6 through 23 months from the Knowledge, Practices,
Coverage 2000+, Food and Nutrition Technical Assistance Project, Academy
for Educational Development, pp. 31, 62.
77.
American Sociological Association (2005), Race, Ethnicity, and the
Health of Americans, Sydney S. Spivack Program in Applied Social
Research and Social Policy, pp. 2-8.
78.
Batool A., et al (2009), “The effect of therapeutic zinc
supplementation among young children with selected infection: a review
of the evidence”, Food and nutrition bulletin, vol. 30, No 1
(supplement), pp. 41-42.
79.
Berger, Ninh N.X., Khan N.C., Nhien N.V., Lien D.K., Trung N.Q., and
Khoi H.H. (2006), “Efficacy of combined iron and zinc supplementation on
micronutrient status and growth in Vietnamese infants”, European
Journal of Clinical Nutrition, 60, pp. 443-454.
80.
Bhutta A., et al (2008), “What works? Interventions for maternal and
child undernutrition and survival”, The Lancet, pp. 41-64.
81.
Black R.E., et al (2008), “Maternal and child undernutrition: global
and regional exposures and health consequences”, The Lancet, pp. 5-11.
82.
Canani R.B., et al (2007), “Probiotics for treatment of acute diarrhoea
in children: randomized clinical trial of five different preparations”,
BMJ, pp. 335-340.
83.
Caulfield L.E., et al (2004), “Undernutrition as an underlying cause of
child deaths associated with diarrhea, pneumonia, malaria, and
measles”, The American Journal of Clinical Nutrition; 80, pp. 193-198.
84.
Cheng H., et al. (2011), Social Marketing for Public Health: An
Introduction, Cheng H., Kotler P. and Lee N.R. Subbury, M.A., Jones and
Barlett Publishers, LLC., pp. 18-27.
85.
Deboarch D. (2010), “The vicious cycle of malnutrition and infectious
diseases: A global challenge”, Journal of Food and Nutrition Sciences,
Volume 6, No. 3+4, pp. 12-13.
86.
Ergin F., et al (2007), “Nutritional status and risk factors of chronic
malnutrition in children under five years of age in Aydin, a western
city of Turkey”, The Turkish Journal of Paediatrics, 49(3), pp. 283-285.
87.
Fanaro S., et al. (2008), “Galacto-oligosaccharides are bifidogenic and
safe at weaning: a double-blind randomized multicenter study”, J.
Pediatr Gastroenterol and Nutr 48, pp. 82-88.
88. FAO/WHO (1992), Final Report of the Conference, International Conference on Nutrition, Rome, December, pp. 42, 55.
89.
General Statistics Office (2011), Viet Nam Multiple Indicator Cluster
Survey 2010-2011, Final Report, 2011, Ha Noi, Viet Nam, pp. 49-64.
90.
Girma A., et al (2010), “The effectiveness of quality protein maize in
improving the nutritional status of young children in the Ethiopian
highlands”, Food and Nutrition Bulletin, vol. 31, 2010, pp. 418-430.
91.
Green L.W. (1999), Health education's contributions to public health in
the twentieth century: a glimpse through health promotion's rearview
mirror, Annu. Rev. Public Health, 20: 67-71 .
92.
Hatlebakk M. (2012), Malnutrition in South-Asia Poverty, diet or lack
of female empowerment?, Chr. Michelsen Institute, pp. 8-13.
93.
Hirose M. (2011), Integrated corporate social initiatives in Japan:
from product development to health care information. Social Marketing
for Public Health: Global Trends and Success Stories. Cheng H., Kotler
P., and Lee N.R. Subbury, M.A., Jones and Barlett Publishers, LLC., pp.
38-42.
94.
Hol J., et al (2008), “The acquisition of tolerance toward cow's milk
through probiotic supplementation: a randomized, controlled trial”, J.
Allergy Clin, Immunol 121, pp. 1448-1454.
95.
Hop L.T., Berger J. (2005), “Multiple Micronutrient supplementation
improves anemia, Micronutrient nutrient status, and growth of Vietnamese
Infants: Double-Blind randomized, Placebo-control trial”, American
Society For Nutritional Sciences, 0022-3166/05, pp. 660-665.
96.
Hop L.T. (2003), “Programs to Improve Production and Consumption of
Animal Source Foods and Malnutrition in Vietnam”, Journal of Nutrition,
133: 4006S-4009S.
97.
Hurell R.F., Furniss D.E., Cook J.D. (1989), “Iron fortified of infant
cereals: a proposal for the use of ferrous fumarate or ferrour
succinate”, Am..J..Clin..Nutr, 49, pp. 1274-1282.
98.
Janevic T., et al (2010), “Risk factors for childhood malnutrition in
Roma settlements in Serbia”, BMC Public Health, 10:509, pp. 1-4.
99.
Jingxu Z., et al (2009), An infant and child feeding index is
associated with child nutritional status in rural China, Early Human
Development, 85 (2009), pp. 247-252.
100.
Kathryn G.D. (2007), “Increasing iron intake of children through
complementary foods”, Food and nutrition Bulletin, 28(4), pp. 595-598.
101.
Kenneth H.B., et al (2007), “Preventive zinc supplementation among
infants, preschoolers and older prepubertal children”, Food and
nutrition bulletin, 28(4), pp. 12-13, 32-33.
102.
Khan N.C., et al (2005), “Community mobilization and social marketing
to promote weekly iron-folic acid supplementation: a new approach toward
controlling anemia among women of reproductive age in Vietnam”, Nutr
Rev 63 (12 Pt 2), pp. 87-94.
103.
Larrea C., and Freire W. (2002), “Social inequality and child
malnutrition in four Andean countries”, Rev Panam Salud Publica/Pan
Americian Journal Public Health, 11(5/6), pp. 356-359.
104.
Li Y., Hotta M., Shi A, Li Z. (2007), “Malnutrition improvement for
enfants under 18 months old of Dal minority in Luxi, China”, Paediatric
International: Official of Japan Paediatric society, 49(2), pp. 273-275.
105.
Lo N.B., et al (2011), “Plasma zinc concentration responds to
short-term zinc supplementation, but not zinc fortification, in young
children in Senegal”, The American Journal of Clinical Nutrition, pp.
1348-1354.
106.
Loechl C.U., et al (2009), Using programmed theory to assess the
feasibility of delivering micronutrient Sprinkles through a
food-assisted maternal and child health and nutrition programmed in
rural Haiti, Maternal and child nutrition, Blackwell Publishing Ltd, 5,
pp. 33-48.
107.
Lukacik M., et al (2008), “A meta-analysis of the effecst of oral zinc
in the treatment of acute and persistent diarrhea”, Pediatrics, Feb, 121
(2), pp. 326-336.
108.
Marjoleine A., et al (2008), “Zinc Supplementation Improved Length
Growth Only in Anemic Infants in a Multi-Country Trial of Iron and Zinc
Supplementation in South-East Asia”, The Jounal of Nutrition, pp.
1969-1974.
109.
Nhien N.V, et al (2008), “Micronutrient deficiencies and anemia among
preschool children in rural Vietnam”, Asia Pac J. Clin Nutr, 17(1), pp.
48-55.
110.
Oanh Tran Thi Mai (2009), The Review of Barriers to Access Health
Services for Selected groups in Vietnam: A case-study, Ha Noi, March,
pp. 29-30.
111.
Onic M., et al (1993), “The worldwide magnitude of Protein-energy
malnutrition: An overview from WHO global. Data base on child growth”,
Bulletin of the WHO, 71(5), pp. 703-712.
112.
Pasricha S.R., et al (2008), “Anemia, Iron Deficiency, Meat
Consumption, and Hookworm Infection in Women of Reproductive Age in
Northwest Vietnam”, Am J Trop Med Hyg 78(3), pp. 77-84.
113.
Pasricha S.R, et al (2013), “Efect of daily iron supplementation on
health in children aged 4-23 months: a systematic review and meta
analysis of randomised controlled trials”, The Lancet, 1: e77-86.
114. Pee S.C., et al (1996), “Can increased vegetable consumption improve iron status?”, Food Nutr. Bull, 17, pp. 34-40.
115.
Phu P. V., et al (2012), “A six-month intervention with two different
types of micronutrient-fortified complementary foods had distinct
short-and long-term effects on linear and ponderal growth of Vietnamese
infants”, The Journal of Nutrition 142, pp. 1735-1740.
116.
Priyali P., et al (2008), “Serum zinc levels amongst pregnant women in a
rural block of Haryana state, India”, Asia Pac J Clin Nutr 2008: 17
(2), pp. 276-279.
117.
Ramakrishnan U., et al (2009), “Multiple micronutrient supplementation
during early childhood increases child size at 2 year of age only among
high compliers”, Am J Clin Nutr 2009; 89: 1125-31.
118.
Randa J.S., et al (1993), Global breastfeeding prevalence and trends,
In: Breastfeeding-The technical basic and recommendation for action,
WHO, Geneva, pp. 1, 19.
119.
Shibani G. et al (2010), “Effect of lysine supplementation on health
and morbidity in subjects belonging to poor peri-urban households in
Accra, Ghana”, Am J. Clin Nutr, 92, pp. 928-939.
120. Save the Children (2012), Nutrition in the First 1,000 Days. State of the World’s Mothers 2012, USA, pp. 5-8, 16-18, 54-58.
121.
Spencer N. (2003), Poverty and child health in the European Region,
School of Health and Social Studies, University of Warwick, pp. 1, 6,
19-20.
122.
Thompson B.và Amoroso L. (2011), Combating Micronutrient Deficiencies:
Food based Approaches, Food and Agriculture Organization of the United
Nations, Cambridge, USA, pp. 7-10, 21.
123. Tsegaye S., et al (2008), Child poverty an Africa, an review, The African Child Policy Forum, pp. 3-34
124.
UNICEF (1990), Strategy for improved nutrition of children and women in
developing countries, a UNICEF policy review, New York, USA, pp. 22-30.
125.
UNICEF, WHO (2001), Iron Deficiency Anaemia. Assessment, Prevention,
and Control, A guide for programme managers, WHO/01-03, pp. 15-16.
126. UNICEF (2009), The state of the world’s children 2009, New York, USA, December, pp. 122-128.
127.
UNICEF (2010), Progress for children: Achieving the millenium
development goals with equity, Convention on the right of child, Number
9, September, pp. 34-45.
128. UNICEF (2011), The state of the world’s children 2011, New York, USA, February, pp. 92-95.
129.
UNICEF (2011), Child Poverty in East Asia and the Pacific: Deprivations
and Disparities, A Study of Seven Countries, UNICEF East Asia and
Pacific, Bangkok, October, pp. 28-30.
130. UNICEF, WHO, WB (2012), Level and trends in child malnutrition, 1990-2011, New York, USA, pp. 1-12.
131.
World Bank (2009), Country Social Analysis Ethnicity and Development in
Vietnam, Summary Report, Washington, D.C., 20433, pp.18-30.
132. WHO (1981), Development of indicators for monitoring progress towards health for all by the year 2000, Geneva, pp. 32-34.
133. WHO/UNICEF (1981), Infant and young child feeding current issue, Geneva, pp. 131-132.
134. WHO (1993), Breasfeeding-The technical basic and recommendation for action, Geneva, pp. 10, 32-35.
135.
WHO (1995), Physical status: The use and interpretation of
anthropometry, WHO technical Report Series 854, Geneva, pp. 1-16.
136. WHO (1997), WHO Global Database on Child Growth and Malnutrition, Geneva, pp. 7-28.
137. WHO (2006), “WHO child growth standards based on height, weight and age”, Acta paediatrica, suppl 450, pp. 76-85.
138.
WHO (2008), Indicators for assessing infant and young child feeding
practices, Conclusions of a consensus meeting held 6-8 November 2007 in
Washington, D.C., USA, pp. 2-10.
139. WHO (2008), Worldwide prevalence of anaemia 1993–2005. Who Global database on anaemia , WHO, Geneva, pp. 20-24.
140. WHO (2009), Global database on child growth and malnutrition, WHO, Geneva, pp. 5-10.
141. WHO (2009), Infant and young child nutrition: quadrennial progress report, Report by the Secretariat, WHO, Geneva, pp. 1-5.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét