Thứ Tư, 27 tháng 5, 2015

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC BỘ CÔNG THƯƠNG THEO HƯỚNG TỰ CHỦ VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC BỘ CÔNG THƯƠNG THEO HƯỚNG TỰ CHỦ VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI



NCS: LÊ THANH TÂM




MỤC LỤC

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
6. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
7. PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Phương pháp tiếp cận
7.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
8. LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ
9. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
10. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC BỘ CHỦ QUẢN THEO HƯỚNG TỰ CHỦ, TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI

1.1. TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1. Nghiên cứu ngoài nước
1.1.2. Nghiên cứu trong nước
1.2. GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ QUẢN LÝ TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.2.1. Vai trò của giáo dục đại học
1.2.2. Trường đại học và quản lý trường đại học
1.2.3. Tự chủ và trách nhiệm xã hội là thuộc tính của trường đại học
1.3. TỰ CHỦ VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRONG PHÂN CẤP QUẢN LÝ
1.3.1. Phân cấp quản lý và phân cấp quản lý đại học
1.3.2. Tự chủ của trường đại học và các nội dung cơ bản
1.3.3. Trách nhiệm xã hội của trường đại học và các nội dung cơ bản
1.3.4. Mối quan hệ giữa tự chủ và trách nhiệm xã hội của trường đại học
1.3.5. Nhân tố chính sách, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến quyền tự chủ và tráchnhiệm xã hội của trường đại học
1.3.6. Nội dung quản lý trường đại học đảm bảo thực hiện quyền tự chủ và tráchnhiệm xã hội
1.4. ĐẶC TRƯNG QUẢN LÝ TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC BỘ NGÀNH (BỘ CHỦ QUẢN) THEO HƯỚNG TỰ CHỦ VÀ  TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
1.4.1. Quản lý nhà nước đối với trường đại học thuộc Bộ ngành
1.4.2. Quản lý theo hướng tự chủ và trách nhiệm xã hội của các trường đại họcthuộc Bộ ngành
1.4.3. Các điều kiện đảm bảo quản lý trường đại học thuộc Bộ ngành theo hướngtự chủ và trách nhiệm xã hội

Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC BỘ CHỦ QUẢN THEO HƯỚNG TỰ CHỦ VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI

2.1. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ THỰC HIỆN QUYỀN TỰ CHỦ VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TRONG QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
2.1.1. Kinh nghiệm của Singapore
2.1.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản
2.1.3. Kinh nghiệm của Mỹ
2.2. KHÁI QUÁT CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC BỘ CÔNG THƯƠNG
2.3. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUYỀN TỰ CHỦ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC BỘ CÔNG THƯƠNG
2.3.1. Khung pháp lý về quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các trường đạihọc Việt Nam
2.3.2. Kết quả khảo sát thực trạng thực hiện quyền tự chủ của trường đại họcthuộc Bộ Công Thương
2.3.3. Đánh giá mức độ tự chủ và trách nhiệm xã hội của 4 trường đại học đượcnghiên cứu qua các tiêu chí cơ bản
2.4. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC BỘ CÔNG THƯƠNG THỰC HIỆN TỰ CHỦ VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
2.4.1. Về năng lực đội ngũ cán bộ quản lý các cấp của các trường
2.4.2. Về việc thành lập Hội đồng trường
2.4.3. Về việc hình thành hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong
2.4.4. Về việc xây dựng văn hóa tự chủ và trách nhiệm xã hội
2.5. ĐÁNH GIÁ CHUNG QUẢN LÝ CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC BỘ CÔNG THƯƠNG THEO HƯỚNG TỰ CHỦ VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUẢN LÝ TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC BỘ CÔNG THƯƠNG THEO HƯỚNG TỰ CHỦ VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI

3.1. CÁC NGUYÊN TẮC LỰA CHỌN GIẢI PHÁP
3.1.1. Nguyên tắc kế thừa
3.1.2. Nguyên tắc thực tiễn
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
3.2. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUẢN LÝ TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC BỘ CÔNG THƯƠNG
3.2.1. Nâng cao nhận thức về thực hiện tự chủ và TNXH trong quản lý của nhàtrường
3.2.2. Nâng cao năng lực quản lý của lãnh đạo nhà trường, cán bộ quản lý cáckhoa, phòng, trung tâm
3.2.3. Thành lập Hội đồng trường; Củng cố và hoàn thiện bộ máy quản lý, quytrình quản lý của nhà trường
3.2.4. Phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong nhà trường
3.2.5. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và thực hiệncông khai
3.2.6. Thực hiện việc công khai minh bạch các hoạt động quản lý, chất lượngđào tạo, tài chính tới khách hàng và các bên liên đới
3.2.7. Đa dạng hóa nguồn thu trên cơ sở phát huy sự năng động sáng tạo của cácđơn vị và cá nhân trong trường
3.2.8. Xây dựng văn hóa tự chủ và trách nhiệm xã hội trong mỗi nhà trường
3.2.9. Tạo lập mạng lưới liên kết giữa các trường đại học thuộc Bộ Công Thương
3.2.10. Mối quan hệ giữa các giải pháp
3.3. KHẢO SÁT VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP
3.3.1. Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp được đề xuất
3.3.2. Thử nghiệm giải pháp đa dạng hóa nguồn thu

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

AUN ASEAN University Network
CB, VC Cán bộ, viên chức
CĐ Cao đẳng
CLGD Chất lượng giáo dục
CSGD Cơ sở giáo dục
CTĐT Chương trình đào tạo
ĐH Đại học
EUA European University Association
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
GDĐH Giáo dục đại học
HCSN Hành chính sự nghiệp
HSSV Học sinh, sinh viên
HĐT Hội đồng trường
KHCN Khoa học công nghệ
KTTT Kinh tế thị trường
KT-XH Kinh tế, xã hội
MTCL Mục tiêu chất lượng
NĐ-CP Nghị định Chính phủ
NNS Nguồn ngân sách
NSNN Ngân sách Nhà nước
NCKH Nghiên cứu khoa học
SP Sản phẩm
SX Sản xuất
TN-TH Thí nghiệm - Thực hành
TNXH Trách nhiệm xã hội
TTQT Thủ tục quy trình
XDCB Xây dựng cơ bản
QLNN Quản lý Nhà nước
QLGD Quản lý giáo dục
UBND Ủy ban nhân dân

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Các nội dung chính của tự chủ đại học
Bảng 2.1: Thực trạng số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên tính đến 31/12/2012
Bảng 2.2: Quy mô học sinh, sinh viên các trường đại học
Bảng 2.3: Thực trạng nguồn thu của trường Đại học Công nghiệp Việt Trì, trong 4năm từ năm 2009 - 2012
Bảng 2.4: Thực trạng nguồn thu sự nghiệp của trường Đại học Công nghiệp Việt
Trì, trong 4 năm từ năm 2009 - 2012
Bảng 2.5: Thực trạng nguồn thu của trường Đại học Công nghiệp Hà Nội trong 4năm, từ năm 2009 - 2012
Bảng 2.6: Thực trạng nguồn thu sự nghiệp của trường Đại học Công nghiệp Hà Nộitrong 4 năm, từ năm 2009 - 2012
Bảng 2.7: Thực trạng nguồn thu của trường Đại học Công nghiệpViệt − Hung, trong 4 năm từ năm 2009 - 2012
Bảng 2.8: Thực trạng nguồn thu sự nghiệp của trường Đại học Công nghiệp Viêt - Hung, trong 4 năm từ năm 2009 - 2012
Bảng 2.9: Thực trạng nguồn thu của trường Đại học Sao Đỏ trong 4 năm, từ năm2009 - 2012
Bảng 2.10: Thực trạng nguồn thu sự nghiệp của trường Đại học Sao Đỏ, trong 4năm từ năm 2009 - 2012
Bảng 2.11: Quy mô đào tạo giai đoạn 2009 – 2012 (tính đến 30/6/2012)
Bảng 2.12: Quy mô đào tạo giai đoạn 2009 – 2012
Bảng 2.13: Quy mô đào tạo giai đoạn 2009 – 2012
Bảng 2.14: Quy mô đào tạo giai đoạn 2009 – 2012
Bảng 3.2: Nguồn thu sự nghiệp của Trường Đại học Công nghiệp Việt Trì trước vàsau thử nghiệm

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Thực trạng số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên tínhđến 31/12/2012
Biểu đồ 2.2: Thực trạng nguồn thu tại Trường Đại học Công nghiệp Việt Trìtrong 4 năm, giai đoạn 2009 – 2012
Biểu đồ 2.3: Nguồn thu sự nghiệp của trường Đại học Công nghiệp Việt Trì, trong 4 năm từ năm 2009 - 2012
Biểu đồ 2.4: Thực trạng nguồn tài chính tại Trường Đại học Công nghiệp Hà
Nội trong 4 năm, giai đoạn 2009 – 2012
Biểu đồ 2.5: Nguồn thu sự nghiệp của trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, trong 4 năm từ năm 2009 - 2012
Biểu đồ 2.6: Thực trạng nguồn tài chính tại Trường Đại học Công nghiệp Việt − Hung trong 4 năm, giai đoạn 2009 – 2012
Biểu đồ 2.7: Nguồn thu sự nghiệp của trường Đại học Công nghiệp Việt Hungtrong 4 năm, từ năm 2009 - 2012
Biểu đồ 2.8: Thực trạng nguồn tài chính tại Trường Đại học Sao Đỏ trong 4năm, giai đoạn 2009 - 2012
Biểu đồ 2.9: Nguồn thu sự nghiệp của trường Đại học Công nghiệp Sao Đỏ, trong 4 năm từ năm 2009 - 2012
Biểu đồ 3.1: Nguồn thu sự nghiệp của Trường Đại học Công nghiệp Việt Trì 2 năm 2012,2013

--------------------LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC GỒM GẦN 200TR CÓ NỘI DUNG NHƯ SAU:


MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật và hội nhập quốc tế, giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng ngày càng giữ vị trí quan trọng. Sự cạnh tranh giữa các nước trên thế giới hiện nay chủ yếu biển hiện là cạnh tranh kinh tế, thực chất là cạnh tranh về khoa học kỹ thuật, cạnh tranh về nhân tài mà nền tảng của nó lại là cạnh tranh về giáo dục. Giáo dục hiện đại được xem là đòn bẩy quan trọng của tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng suất lao động sản xuất.

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và coi trọng công tác giáo dục và đào tạo. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, X đã khẳng định:

Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu; Phát triển giáo dục và đào tạo là một động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH; Là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng nhanh và bền vững.

Đối với giáo dục đại học tại Điều 3, Luật giáo dục đại học năm 2012, xác định mục tiêu chung là: “Đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; Nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra trí thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế; Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; Có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo; Có sức khỏe; Có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; Có ý thức phục vụ nhân dân” [83].

Việt Nam, sau gần 30 năm thực hiện đổi mới, hội nhập quốc tế; Kinh tế - xã hội nói chung và giáo dục nói riêng, trong đó có GDĐH đã đạt những thành tựu quan trọng. Hiện tại, GDĐH đang có nhiều cơ hội, song cũng đứng trước nhiều thách thức, đó là sự bất cập về khả năng đáp ứng của hệ thống GDĐH đối với yêu cầu đào tạo nhân lực chất lượng cao phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế. Tư duy giáo dục chậm đổi mới chưa thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các cơ sở GDĐH nặng về dạy những gì mình có, chưa quan tâm đúng mức, kịp thời đến nhu cầu của xã hội.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế của GDĐH Việt Nam, tính tự chủ và chịu trách nhiệm xã hội của các thiết chế GDĐH trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, là phương thức hoạt động có tính quyết định sự thành bại của đổi mới GDĐH Việt Nam.

Vì vậy, để chóng đáp ứng yêu cầu của đất nước về đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, GDĐH nước ta phải tiếp tục đổi mới một cách mạnh mẽ, cơ bản và toàn diện, trong đó yêu cầu đổi mới quản lý nhà trường đại học là một yêu cầu cấp bách.

Điều 32 của Luật GDĐH quy định: Nhà trường được tự chủ về tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản, đào tạo, hoạt động khoa học công nghệ, đảm bảo chất lượng, hợp tác quốc tế. Mức độ tự chủ phù hợp với năng lực, kết quả xếp hạng và kiểm định.

Tự chủ đại học bản thân nó đã là tâm điểm của mối quan hệ giữa nhà nước, nhà trường và xã hội. Mức độ và năng lực thực hiện tự chủ và trách nhiệm xã hội nói lên trình độ trưởng thành của mỗi trường đại học và cả hệ thống đại học. Sự phân cấp về thẩm quyền ra quyết định và trách nhiệm xã hội trong học thuật cũng như trong các lĩnh vực của quản lý GDĐH được tiến hành đồng thời là điều thiết yếu để đảm bảo sự thành công trong tự chủ của cơ sở đại học.

Trên thực tế GDĐH ở nước ta vẫn có một sự khó hiểu, đó là sự do dự rất lớn của một bộ phận quan chức cấp cao trong việc phân chia trách nhiệm cho các đơn vị trực thuộc, dẫn tới từ Luật đến văn bản dưới Luật, cánh cửa tự chủ dường như vẫn bị hẹp. Về phía các trường đại học, đã có những cơ sở thực hiện tự chủ thành công nhờ vào năng lực lãnh đạo thiết lập được các nền tảng vững chắc và hoạch định được lộ trình. Tuy nhiên, cũng còn không ít cơ sở đại học có sự do dự ở một số bộ phận chức năng trong việc nhận lãnh trách nhiệm đã được phân cấp và không dám dấn thân vào cuộc thử nghiệm. Có một kết luận rút ra ở đây là bắt tay vào việc giải quyết vấn đề ngay lập tức thì tốt hơn là đợi đến khi đã muộn. Bên cạnh đó khi được trao quyền tự chủ, các trường thường lại không thực hiện trách nhiệm xã hội tương ứng với quyền tự chủ được trao.

Đã có nhiều công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước đề cập đến quyền tự chủ và TNXH của đại học và đã đặt nền tảng về mặt lý luận và thực tiễn cho vấn đề này. Tuy nhiên, vấn đề tự chủ và TNXH của đại học ở nước ta vẫn còn là vấn để mới cả về cả phương diện lý luận và thực tiễn. Các nghiên cứu đã có mới chỉ dừng lại nghiên cứu ở cấp hệ thống hoặc ở các trường đại học lớn, tại các thành phố lớn và các khu vực phát triển; Chưa có một nghiên cứu nào đề cập đến cơ sở khoa học quản lý trường đại học theo hướng tự chủ và trách nhiệm xã hội cho các trường ĐH thuộc bộ ngành (Bộ chủ quản).

Bộ Công Thương, hiện nay quản lý 51 trường đào tạo; Trong đó có 8 trường ĐH công lập, nhiều trường ĐH mới được thành lập trên cơ sở nâng cấp từ trường cao đẳng. Theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ, các trường ĐH thuộc Bộ Công Thương đã được giao quyền tự chủ trong ba lĩnh vực: Tổ chức, nhân sự, tài chính; Tuy nhiên trên thực tế quyền tự chủ của các trường còn thấp; Phân cấp quản lý chưa đi đôi với nâng cao năng lực quản lý phù hợp. Thực hiện quyền tự chủ còn chưa gắn kết đầy đủ với nghĩa vụ và TNXH.

Để các trường ĐH thuộc Bộ Công Thương thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đào tạo nhân lực trình độ cao và nghiên cứu khoa học đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội đất nước và của ngành, cần tìm kiếm các giải pháp thực hiện quản lý dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn của tự chủ và TNXH. Đó là những lý do chính để nghiên cứu sinh lựa chọn vấn đề “Cơ sở khoa học về quản lý trường đại học thuộc Bộ Công Thương theo hướng tự chủ và trách nhiệm xã hội” làm đề tài nghiên cứu.

2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu cơ sở khoa học và đề xuất các giải pháp thực hiện quản lý trường đại học thuộc Bộ Công Thương theo hướng tự chủ và TNXH.

3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Khách thể nghiên cứu: Quản lý các trường đại học thuộc Bộ Công Thương.

- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý trường đại học thuộc Bộ Công Thương theo hướng tự chủ và TNXH.

4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Việc thực hiện tự chủ và TNXH trong quản lý trường đại học là một yếu tố quan trọng để cho phép các cơ sở GDĐH đáp ứng tốt nhất nhu cầu mới đang được đặt ra cho mỗi nhà trường. Tuy nhiên nhận thức về thực hiện quyền tự chủ, TNXH và thực hiện tự chủ, TNXH của các cơ sở GDĐH còn rất khác nhau ở nước ta; Nếu cụ thể hóa được nội dung và mức độ tự chủ, cũng như nội dung TNXH và các điều kiện cơ bản để thực hiện quyền tự chủ và TNXH trong quản lý cơ sở GDĐH, thì quá trình thực hiện tự chủ và TNXH ở các trường ĐH sẽ có căn cứ khoa học và có tính khả thi hơn.

Quản lý trường đại học thuộc Bộ Công Thương theo hướng tự chủ và trách nhiệm xã hội còn hạn chế, mức độ tự chủ và năng lực thực hiện TNXH còn thấp gây cản trở đáng kể cho phát triển mỗi trường; Nếu đề xuất được các giải pháp quản lý thực hiện tốt hơn quyền tự chủ và TNXH sẽ giúp các trường nâng được chất lượng và hiệu quả đào tạo, và điều này trực tiếp đáp ứng yêu cầu cấp thiết của người học, của doanh nghiệp và sự phát triển kinh tế của ngành và kinh tế - xã hội của cộng đồng mà trường phục vụ..

5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Xác lập cơ sở lý luận về quản lý trường đại học thuộc Bộ chủ quản theo hướng tự chủ và trách nhiệm xã hội;

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng về quản lý theo cơ chế thực hiện quyền tự chủ và TNXH của các trường đại học trực thuộc Bộ Công Thương khu vực vùng

Trung du và miền núi phía Bắc và vùng Đồng bằng sông Hồng - Các trường đại học được quản lý theo phương thức song bộ (Bộ chủ quản và Bộ Giáo dục & Đào tạo);

- Đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện quản lý trường đại học thuộc Bộ Công Thương theo hướng tự chủ và trách nhiệm xã hội.

- Tổ chức khảo sát tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp được đề xuất; Thử nghiệm giải pháp đề xuất.

6. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

Do điều kiện có hạn, Luận án tập trung nghiên cứu khảo sát 4 trên tổng số 8 trường đại học công lập thuộc Bộ Công Thương: ĐH Công nghiệp Việt Trì, ĐH Công nghiệp Hà Nội, ĐH Công nghiệp Việt – Hung, ĐH Sao Đỏ và tiến hành thử nghiệm một giải pháp tại trường Đại học Công nghiệp Việt trì. Do điều kiện có hạn,Luận án tiến hành thử nghiệm một giải pháp “Đa dạng hóa nguồn thu trên cơ sở phát huy sự năng động sáng tạo của các đơn vị và cá nhân trong trường”

7. PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7.1. Phương pháp tiếp cận

Để thực hiện được mục tiêu của đề tài, Luận án sử dụng các phương pháp tiếp cận sau:

Phương pháp tiếp cận duy vật biện chứng: Đặt đối tượng nghiên cứu trong mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng và ràng buộc lẫn nhau. Đối tượng ở trạng thái vận động, biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển, đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật hiện tượng. Phương pháp tiếp cận duy vật biện chứng giúp Luận án vận dụng, thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt, xem xét sự vật hiện tượng trong mối quan hệ tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau. Sự phản ánh hiện thực, đúng thực trạng trở thành công cụ hữu hiệu giúp Luận án lựa chọn đề xuất các giải pháp hiệu quả trong quản lý trường đại học theo hướng tự chủ và TNXH

- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Việc quản lý nhà trường theo hướng tự chủ và TNXH hiệu quả hay không hiệu quả liên quan đến một hệ thống gồm nhiều nhân tố tham gia từ Nhà nước xuống đến các đơn vị trong nhà trường. Phương pháp tiếp cận hệ thống giúp Luận án lựa chọn được những chỉ tiêu sát thực trong quá trình xây dựng các tiêu chí đánh giá.

- Phương pháp tiếp cận tổng hợp: Quản lý trường đại học thuộc Bộ chủ quản theo hướng tự chủ và TNXH, không phải là hoạt động hoàn toàn độc lập của từng đối tượng nghiên cứu mà nó chịu sự chi phối của nhiều nhân tố khác nhau như lịch sử phát triển của nhà trường, kinh nghiệm quản lý, cơ sở vật chất, đội ngũ, quy mô, ngành đào tạo… Do vậy, sử dụng phương pháp tiếp cận tổng hợp giúp Luận án có những nhận định khái quát sâu rộng, đầy đủ hơn trong quá trình nghiên cứu.

- Phương pháp tiếp cận quản lý sự thay đổi: Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của Công nghệ thông tin và truyền thông; Môi trường kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ thay đổi một cách nhanh chóng, đã tạo ra rất nhiều cơ hội cũng như phải đối mặt với không ít thách thức, khó khăn đối với các nhà quản lý các cơ sởGDĐH. Do đó, thay đổi là một yếu tố quan trọng liên quan đến việc quản lý của các cơ sở GDĐH. Nếu không mau chóng thích ứng với sự thay đổi, nhà trường khó có thể giữ được vị trí, thương hiệu trong việc đáp ứng những đòi hỏi của xã hội. Ở nước ta, quyền thực hiện tự chủ của các trường đại học đã được nới rộng dần, đồng thời với việc thực hiện TNXH cũng đang đòi hỏi tương ứng với quyền tự chủ được trao. Do vậy, các nhà quản lý các cơ sở GDĐH cần nhận thức rõ sự cần thiết của việc thay đổi, những yếu tố tác động tích cực và tiêu cực của sự thay đổi, xây dựng kế hoạch hành động và quản lý sự thay đổi.

7.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

Thông qua hồi cứu tư liệu khoa học đã tiến hành nghiên cứu phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tài liệu, tư liệu từ các nguồn khác nhau đã công bố có liên quan đến nội dung nghiên cứu lý luận của đề tài: Các văn kiện của Đảng, Nhà nước về giáo dục – đào tạo; Các tài liệu của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Công Thương; các công trình nghiên cứu khoa học, Luận án và những tài liệu, sách báo có liên quan trong và ngoài nước nhằm xây dựng cơ sở lý luận về phân cấp quản lý giáo dục, thực hiện quyền tự chủ và TNXH trong quản lý của các trường đại học được xác lập tạo cơ sở để thiết lập công cụ khảo sát và định hướng tổ chức khảo sát, đánh giá việc thực hiện quyền tự chủ và TNXH trong quản lý của các trường đại học. Việc đánh giá có thể thực hiện thông qua đánh giá định lượng hoặc đánh giá định tính, trong đó đánh giá định lượng được thể hiện trên các số liệu cụ thể, còn đánh giá định tính là đưa ra được những nhận định về mặt tính chất của sự vật và hiện tượng. Luận án sử dụng đồng thời cả hai cách tiếp cận: Dựa vào phân tích kết quả điều tra theo phiếu hỏi, phỏng vấn trực tiếp và dựa vào phân tích số liệu hoạt động quản lý của các trường ĐH thuộc đối tượng khảo sát.

- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Xây dựng phiếu hỏi và phỏng vấn cán bộ, viên chức, những người làm công tác quản lý của các trường. Tổ chức khảo sát thực tế tại các trường thuộc đối tượng nghiên cứu.

- Thu thập, xử lý và phân tích số liệu thu được thông qua khảo sát của 4 trường đại học trực thuộc Bộ Công Thương từ năm 2009 đến năm 2012.

- Thử nghiệm một số giải pháp đã đề xuất trong Luận án nhằm kiểm chứng bước đầu tính khả thi và hiệu quả của các giải pháp.

- Các phương pháp bổ trợ khác

Là phương pháp thực hiện sau khi đã tiến hành điều tra, khảo sát và thu thập tài liệu; Thống kê toán học, sử dụng phần mềm SPSS để xử lý kết quả điều tra và thử nghiệm; Trao đổi trực tiếp với các chuyên gia quản lý trong các cơ sở GDĐH, các nhà nghiên cứu về quản lý giáo dục, các nhà khoa học khác về những vấn đề liên quan đến quản lý trường đại học theo hướng tự chủ và trách nhiệm xã hội.

8. LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ

Luận điểm 1: Quyền tự chủ của các trường ĐH đi đôi với TNXH. Quản lý trường ĐH theo hướng tự chủ và TNXH liên quan đến các khía cạnh cơ bản: Năng lực đội ngũ cán bộ quản lý các cấp của nhà trường; Hội đồng trường và cơ cấu tổ chức, các quy trình quản lý; Hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong; Công khai; Văn hóa tự chủ và TNXH của mỗi trường.

Luận điểm 2: Quản lý trường ĐH thuộc Bộ Công Thương nói riêng, các trường ĐH trực thuộc quản lý song bộ nói chung theo hướng tự chủ và TNXH có những đặc thù: Cơ chế phối hợp/điều phối quản lý giữa Bộ chủ quản (Bộ Công Thương) Và Bộ GD&ĐT chưa được hợp lý: Vấn đề chỉ đạo chuyên môn và các điều kiện thực hiện; Vấn đề nhu cầu nhân lực của ngành và chỉ tiêu đào tạo; Vấn đề quan điểm và triển khai phân cấp tự chủ và TNXH của hai Bộ đối với các trường còn chưa được thống nhất; Bản thân các trường ĐH thuộc Bộ chủ quản đa số mới được nâng cấp từ Cao đẳng nên năng lực tự chủ và thực hiện TNXH cũng còn thấp; Đầu tư nguồn lực cho công tác quản lý nhà trường theo hướng tự chủ và TNXH của Bộ chủ quản đã có sự quan tâm hơn, nhưng vẫn còn ở mức thấp so với yêu cầu thực tế.

Luận điểm 3: Các giải pháp thực hiện quản lý trường ĐH thuộc Bộ Công

Thương theo hướng tự chủ và TNXH mà Luận án đã xây dựng là hữu hiệu và có tính đến các yếu tố đặc thù của các trường ĐH thuộc quản lý song Bộ: Hình thành nhận thức đúng đắn về quản lý theo hướng tự chủ và TNXH, hình thành kỹ năng quản lý theo hướng tự chủ và TNXH; Xây dựng môi trường văn hóa quản lý theo hướng tự chủ và TNXH.

9. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

- Hệ thống hóa được những vấn đề lý luận về quản lý trường đại học theo hướng thực hiện tự chủ và TNXH; Trên cơ sở đó đề xuất các nội dung cơ bản của quản lý trường đại học theo hướng tự chủ và trách nhiệm xã hội.

- Đưa ra được bức tranh thực trạng về quản lý trường đại học thuộc Bộ Công Thương theo hướng tự chủ và TNXH.

- Đề xuất được hệ thống các giải pháp quản lý thực hiện tự chủ và TNXH ở trường đại học thuộc Bộ Công Thương.

10. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo,Danh mục các công trình khoa học nghiên cứu sinh đã công bố liên quan đến Luận án, Luận án gồm ba chương:

Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý trường đại học thuộc Bộ chủ quản theo hướng tự chủ, trách nhiệm xã hội

Chương 2. Cơ sở thực tiễn về quản lý trường đại học thuộc Bộ chủ quản theo hướng tự chủ và trách nhiệm xã hội

Chương 3. Các giải pháp thực hiện quản lý trường đại học thuộc Bộ Công Thương theo hướng tự chủ và trách nhiệm xã hội

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC BỘ CHỦ QUẢN THEO HƯỚNG TỰ CHỦ, TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI

1.1. TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1.1. Nghiên cứu ngoài nước

Khái quát về các công trình nghiên cứu về tự chủ và TNXH trên thế giới.

- Thực tế cho thấy, trên thế giới các trường đại học được giao quyền tự chủ từ rất sớm phù hợp với quy luật quản trị đại học [117]. Nguyên lý về tự chủ của Wilhelm Von Humboldt đã được hình thành vào những năm 1810 với những nguyên lý tiền đề tự do giảng dạy và tự do học tập. Đại học cần được tự chủ không có sự can thiệp của Nhà nước [114].

- Hội đồng giáo dục (Education commission, 1964-1966) Đã chỉ ra rằng: Vấn đề tự do học thuật đối với giáo viên là một yêu cầu bức thiết để phát triển môi trường, tôn trọng tri thức và năng lực. Khi các sinh viên, giáo viên, các nhà quản lý cùng hợp lực để nâng cao chất lượng của GDĐH, điều này tạo nên kết quả là sự chia sẻ những trách nhiệm liên quan và sự tự chủ phải trở thành công cụ để thúc đẩy việc nghiên cứu, giảng dạy. Nhưng tự chủ đối với các trường ĐH phải xác định dựa trên năng lực tự thiết kế riêng chương trình đào tạo của mình bao gồm cả các phương pháp giảng dạy và các chiến lược trong đánh giá, tự chủ về nguồn lực tài chính để phục vụ cho các hoạt động trên [35].

- [Salmi, J. (2009] cho rằng: “Khái niệm, bản chất, nội dung tự chủ được quy định rõ ràng, mọi cơ sở giáo dục đều có thể thực hiện”. Nhà nước luôn tạo mọi hành lang pháp lý để mọi cơ sở giáo dục thực hiện tốt quyền tự chủ. Tự chủ tạo cho các trường một môi trường quản lý thuận lợi, để từ đó phát triển tự do học thuật, tập trung nhân tài và huy động nguồn lực tài chính [120].

- [Thomas Estermann và Terhi Nokkala, (2009) Cho rằng: Tự chủ là một khái niệm được hiểu khác nhau khắp Châu Âu. Quyền tự chủ bao gồm những vấn đề gì hoặc cách thức thực hiện khác nhau tùy thuộc vào quan điểm (trường đại học hoặc cấp quan điểm chính sách). Trong khi có sự chấp nhận rộng rãi khái niệm rằng: “Quyền tự chủ đòi hỏi trách nhiệm như là một đối trọng và cần có một khuôn khổ cho các trường đại học, trong đó họ có thể hoạt động” và cuộc tranh luận về chính xác về bản chất và mức độ trách nhiệm vẫn được diễn ra [107].

- Quyền tự chủ đại học ở các nước trên thế giới là tự chủ toàn diện gồm bốn nội dung chính:

(i) Tự chủ về tổ chức (organisational autonomy),

(ii) Tự chủ về tài chính (financial autonomy),

(iii) Tự chủ về nhân sự (staffing autonomy),

(iv) Tự chủ về học thuật (academic autonomy) (EUA, 2012) [108].

- Thực hiện quyền tự chủ và TNXH là hai mặt của một vấn đề luôn song hành cùng nhau. Đây là hai nguyên tắc hết sức quan trọng, gắn kết chặt chẽ, tồn tại song song và không thể tách rời bởi chịu trách nhiệm xã hội và giải trình mà không có quyền tự chủ để thực thi thì xảy ra tình trạng bị trói buộc kìm hãm, ngược lại tự chủ mà không chịu trách nhiệm xã hội thì dẫn đến tình trạng vô tổ chức [116,104].

- Thực hiện quản lý theo cơ chế tự chủ ĐH làm cho các trường có khả năng cạnh tranh tốt hơn, lành mạnh hơn, chất lượng đào tạo tăng lên đáng kể và đa dạng hóa được nguồn thu để duy trì các hoạt động của nhà trường được bền vững; Đồng thời có tác động tăng sự linh hoạt, tạo ra sự công bằng và nâng cao TNXH của các trường trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Thực hiện cơ chế phân cấp mạnh và giao quyền tự chủ cho các cơ sở đào tạo ĐH được coi là yếu tố nền tảng cho sự phát triển bền vững của hệ thống GDĐH. Thực tế, các nước có hệ thống giáo dục tiên tiến nhất cũng là các nước thực hiện cơ chế tự chủ ở mức độ cao nhất.

- Một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề tự chủ và TNXH ở ViệtNam như: Hayden và Thiep (2006,2007) Trong “A 2020 vision for Vietnam”“Institutional autonomy for HE in Vietnam” cho rằng sự đổi mới GDĐH Việt Nam gắn với đổi mới quản lý và đảm bảo tự chủ cho đại học. Nghiên cứu chỉ rõ tự chủ đại học chịu thách thức không chỉ do sự miễn cưỡng đối với việc từ bỏ sự kiểm soát trực tiếp của một bộ phận quản lý GDĐH mà còn do sự nhận thức chưa đầy đủ hàm ý thực sự của tự chủ, cả những đòi hỏi liên quan đến TNXH cũng như cơ chế quản lý hiệu quả trong điều kiện nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, cho cơ quan quản lý còn hạn chế [112]. Nghiên cứu này đã chỉ ra một số khiếm khuyết trong quản lý dẫn tới sự thiếu tự chủ thực chất, nhưng chưa đưa ra cách khắc phục tháo gỡ cơ chế Bộ chủ quản [113].

1.1.2. Nghiên cứu trong nước

Các công trình nghiên cứu từ khi áp dụng cơ chế thực hiện quyền tự chủ và TNXH được khái quát theo 5 vấn đề sau:

Thứ nhất, một số công trình đã nghiên cứu cơ sở lý luận, kinh nghiệm về tự chủ và TNXH ở các nước trên thế giới như Đức, Anh, Mỹ, Pháp, Nhật Bản,Canada, Trung Quốc, Singapore... Với các nội dung như: Tầm quan trọng, bản chất của tự chủ, các điều kiện, tiêu chí, nội dung để thực hiện tự chủ, đưa ra các khung phân tích tự chủ, mối quan hệ giữa nhà nước và nhà trường, những tiêu chí thực hiện TNXH. Xu hướng tăng quyền tự chủ cho đại học là xu hướng chung trên thế giới. Trong các quốc gia thực hiện quyền tự chủ thì GDĐH ở Mỹ và Singapore được giao quyền tự chủ cao nhất. Sự tự chủ cho phép các trường đại học linh hoạt trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu, đa dạng hóa các nguồn lực, cơ chế tự chủ tạo ra môi trường cạnh tranh, khích lệ tinh thần nghiên cứu khoa học, sử dụng các nguồn lực hiệu quả và có những giải pháp, hướng đi phù hợp với sự phát triển. Các tác giả tập trung khái quát những vấn đề cơ sở lý luận và bài học kinh nghiệm có thể áp dụng vào Việt Nam [75,59,62,28,54,61,26,41,42].

Thứ hai, việc thành lập hội đồng trường trong các trường đại học công lập.

Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng, hiện nay ở hầu hết các trường ĐH ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi trên thế giới, bên cạnh hiệu trưởng luôn tồn tại một hội đồng nhà trường. Việc thành lập HĐT ĐH thường được quy định trong luật giáo dục của nhiều quốc gia. Ví dụ như tại Thái Lan, mỗi trường ĐH có một HĐT (gồm chủ tịch, hiệu trưởng, các chủ nhiệm khoa, các giám đốc các viện nghiên cứu trong trường, và các cá nhân có uy tín nhưng không nhận lương từ trường) hoạt động như là cơ quan lãnh đạo cho nhà trường; Hoặc tại Australia, HĐT của một số trường ĐH hoạt động như cơ quan tư vấn phát triển nhà trường và chịu trách nhiệm lựa chọn hiệu trưởng...

Các nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam đã khẳng định: Trước yêu cầu đổi mới giáo dục đại học của Việt Nam, thực hiện quyền tự chủ và TNXH trong quản lý trường đại học công lập đạt được hiệu quả cao, cần phải có hội đồng trường, lý giải tại sao phải có HĐT ĐH tại Việt Nam, việc thành lập HĐT ĐH có dẫn tới chồng chéo thẩm quyền hay không?.. Lâm Quang Thiệp khẳng định, sự chuyển đổi cách quản lý GDĐH ở Việt Nam từ mô hình kế hoạch hoá tập trung sang mô hình KTTT. Bản chất của cơ chế quản lý GDĐH trong KTTT là thực thi quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của trường ĐH và để thực hiện được ý tưởng này thì cần thiết lập và vận hành HĐT ĐH, đi đôi với hệ thống đảm bảo chất lượng GDĐH. Ở trường ĐH, HĐT là một thực thể quyền lực quan trọng tồn tại bên trên và bên cạnh bộ máy điều hành thực thi công việc của hiệu trưởng. Quan hệ giữa HĐT và bộ máy điều hành của hiệu trưởng, có thể ví nôm na giống như quan hệ giữa quốc hội và chính phủ. HĐT có vai trò lãnh đạo là chính, trong khi bộ máy của hiệu trưởng chịu trách nhiệm quản lý. HĐT có trách nhiệm lựa chọn đúng việc để làm (doing the righ things), còn bộ máy của hiệu trưởng có trách nhiệm thực thi các việc đã chọn một cách đúng đắn (doing the things right).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

2 Vũ Thi Phương Anh (2009), Tự chủ Tài chính, Bản dịch phần lý luận.
3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1993), Nghị quyết Trung ương 4, khóa VII,1993.
4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1996), Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII,1996.
5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2007), Nghị quyết Trung ương 5, khóa X,2007.
6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2009), Thông báo kết luận của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 2 (Khoá VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020, Hà Nội.
7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013), Nghị quyết số 29, TW 8 (Khoá XI), về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Hà Nội.
8 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2001), Quản lý Nhà nước và tự chủ tài chính trong các trường đại học, Kỷ yếu Hội thảo khoa học.
9 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Tuyên bố chính sách giáo dục đại học ViệtNam, Hà Nội.
10 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Đổi mới cơ chế tài chính, quy định về thu, kiểm toán, kế toán thu chi ngành giáo dục-đào tạo, NXB Lao động.
11 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Thông tư liên tịch số 07/2009/TTLT-BGDĐT- BNV, ngày 15 tháng 4 năm 2009 về hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục và đào tạo, Hà Nội.
13 Bộ Tài chính (2002), Thông tư số 25/2002/TT-BTC ngày 21/3/2002 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ về chế
150 độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu.
14 Ủy ban về Tự chủ và trách nhiệm giải trình của cơ sở GDĐH thuộc Ban Tư vấn Trung ương về Giáo dục Ấn Độ (2005), các khái niệm cơ bản về tự chủ của cơ sở GDĐH, Lê Tấn Huỳnh Cẩm Giang lược dịch và giới thiệu
15 Bộ Tài chính (2003), Thông tư số 50/2003/TT-BTC ngày 22/5/2003 hướng dẫn đơn vị sự nghiệp có thu xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ theo quy định tại nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ.
16 Bộ Tài chính (2012), Đánh giá tình hình thực hiên tự chủ tài chính và định hướng đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học công lập giai đoạn
2012-2020, Nhóm tư vấn chính sách và Nhóm nghiên cứu Vụ HCSN, Bộ tài chính ( Bài viết tại: Hội thảo đổi mới cơ chế tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học công lập).
17 Trần Đức Cân (2012), Giao quyền tự chủ tài chính là giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn kinh phí và tăng nguồn thu cho các trường ĐH công lập Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “ Đổi mới cơ chế tài chính đối với cơ sở giáo dục ĐH công lập”.
18 Hoàng Văn Châu (2001), Một số vấn đề thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại trường đại học Ngoại Thương.
19 Chính phủ (2002), Nghị định số 10/2002/NĐ-CP, ngày 16 tháng 01 năm 2002 của Chính phủ về đổi mới cơ chế quản lý tài chính, trao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp có thu
20 Chính phủ (2006), Nghị định số 43/NĐ-CP, ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.
21 Chính phủ (2005), Nghị quyết định số 14/NQ-CP, ngày 2 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020, Hà Nội.
22 Chính phủ CHXHCN Việt Nam (2010), Chỉ thị số 296/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012, Hà Nội.
23 Chính phủ (2012), chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020, ngày 13 tháng 6 năm 2012, Hà Nội.
24 Chính phủ (2010), Nghị định số 115/2010/NĐ-CP, ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ về Quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục, Hà Nội.
25 Chính phủ (2012), Nghị quyết số 40/NQ-CP, ngày 9 tháng 8 năm 2012 của Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ hiện thông báo kết luận của Bộ chính trị về đề án Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công.
26 Mai Ngọc Cường (2007), Điều tra thực trạng và khuyến nghị giải pháp thực hiện tự 151 chủ về tài chính ở các trường đại học Việt Nam, Dự án điều tra cơ bản.
27 Lê Thạc Cán (2000), Cải cách giáo dục đại học hiện nay ở Nhật Bản, Tạp chí phát triển giáo dục, Số 6, năm 2000.
29 Đặng Văn Du (2003), Luận án tiến sĩ khoa học kinh tế, Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho đào tạo đại học ở Việt Nam.
30 Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứu 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
31 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
32 Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
33 Ngô Doãn Đãi (2004), Vấn đề quyền tự chủ và trách nhiệm của trường ĐH trong đổi mới giáo dục ĐHVN, tr 16-24. Hội thảo khoa học quốc tế “ Đổi mới mô hình quản trị của các trường đại học khối kinh tế tại Việt Nam”
34 Ngô Doãn Đãi (2008), Tự chủ hay trách nhiệm báo cáo/giải trình hai khái niệm cần làm rõ trong công tác quản lý giáo dục. Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế giáo dục so sánh lần thứ 2: “ Giáo dục Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa” tổ chức tại Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.
35 Lê Tấn Huỳnh Giang (Lược dịch) Viện nghiên cứu giáo dục – Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh (2005), Báo cáo của Ủy ban tự chủ tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đại học thuộc ban tưu vấn Trung ương về giáo dục Ấn Độ, năm 2005, ( Bản dịch tài liệu: Report of the Central Advisory Board of Education (CABE) Committee on Autonomy of Higher Education Institutions.
36 Nguyễn Trường Giang (2012), Đổi mới cơ chế tài chính gắn với nâng cao chất lượng đào tạo đại học, thực hiện mục tiêu công bằng và hiệu quả, Kỷ yếu Hội thảo đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học.
37 Vũ Ngọc Hải (2003), Chính sách cho đào tạo và nghiên cứu trong các trường đại
152 học ở Việt Nam thời kỳ đổi mới, Tạp chí phát triển giáo dục, Số 10(58), năm 2003.
38 Vũ Ngọc Hải (2005), Cách nhìn về nghiên cứu phát triển giáo dục đại học ViệtNam, Tạp chí khoa học, số 3, năm 2005.
39 Vũ Ngọc Hải (2006), Về quyền tự chủ và tính TNXH của các trường đại học Việt Nam, Tạp chí khoa học, số 9, năm 2006.
40 Vũ Ngọc Hải (2006), (2006), “Hai mươi năm đổi mới giáo dục đại học Việt Nam”,, Tạp chí khoa học giáo dục, số 10, năm 2006.
41 Vũ Ngọc Hải (2006), Nghiên cứu đổi mới hệ thống tổ chức trường đại học ViệtNam theo hướng tăng cường tự chủ và TNXH (Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ mã số B 2006-37-18), Viện CL&CTGD, Hà Nội.
43 Vũ Ngọc Hải, Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức (2007), Giáo dục Việt Nam đổi mới và phát triển hiện đại hoá, NXB Giáo dục, Tp. Hồ Chí Minh.
44 Vũ Ngọc Hải, Trần Khánh Đức (2002), Hệ thống giáo dục hiện đại trong những năm đầu thế kỷ XXI (Việt Nam và thế giới), NXB Giáo dục, Hà Nội.
46 Nguyễn Tiến Hùng (2005), Phân cấp quản lý giáo dục Việt Nam: Hiện trạng và khuyến nghị, Quản lý nhà nước về giáo dục, lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội.
47 Nguyễn Tiến Hùng (2006), “Vai trò của các cấp quản lý trong xu thế phân cấp quản lý giáo dục đại học”, Tạp chí Phát triển Giáo dục, Số 6, tháng 03 năm 2006, tr. 46-49.
48 Nguyễn Tiến Hùng (2007), (2007), “Định hướng đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục”,, Khoa học Giáo dục, Số 25, tháng 10 năm 2007, tr. 9-11.
49 Nguyễn Tiến Hùng (2010b), “Các cách tiếp cận chính về lãnh đạo và quản lý GD”, Tạp chí Quản lý Giáo dục, Số 9, tháng 02 năm 2010,tr. 25-28.
50 Nguyễn Tiến Hùng (2010a), “Lý luận và thực tiễn phát triển hệ thống chịu trách nhiệm giáo dục”, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 60, tháng 09 năm 2010, trang 10-12, 35.
52 Chử Thị Hải (2013, Cơ sở khoa học và giải pháp thực hiện quyền tự chủ và TNXH trong quản lý tài chính của các trường cao đẳng khu vực tây Bắc, Luận án tiến sĩ quản lý giáo dục.
53 Hoàng Trần Hậu (2012), Tự chủ đại học qua nghiên cứu tình huống học viện tài chính, Bài viết tại: Hội thảo Đổi mới cơ chế tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học công lập.
54 Nguyễn Trọng Hoài (2012), Tự chủ đại học kinh nghiệm thế giới-bối cảnh trong nước và gợi ý chính sách cho các trường đại học công lập khối kinh tế Việt Nam. Hội thảo khoa học quốc tế đổi mới mô hình quản trị của các trường đại học khối kinh tế tại Việt Nam.
55 Hoàng Thị Xuân Hoa (2012),Tự chủ đại học: Xu thế của phát triển,56 Học viện Hành chính Quốc gia (2003), Tài liệu bồi dưỡng về quản lý hành chính Nhà nước (chương trình chuyên viên chính)-Phần I, Nhà nước và pháp luật.
57 Học viện Hành chính Quốc gia (2003), Tài liệu bồi dưỡng về quản lý hành chính Nhà nước (chương trình chuyên viên chính)-Phần II, Nhà nước và pháp luật.
59 Nguyễn Kim Hồng (2009), Tự chủ đại học= Tự do học thuật+ Tự chủ+ trách nhiệm, Bài viết tại Hội thảo Khoa học: Vấn đề tự chủ-Tự chịu trách nhiệm ở các trường đại học và cao đẳng Việt Nam.
60 Đặng Văn Huấn (2011), Giao quyền tự chủ: kinh nghiệm từ Hàn Quốc
61 Phạm Thị Ly (dịch) bài viết của S Lee Little Soldier, Trường Đại học Texas  Technology ( Hoa Kỳ), (2008), Những vấn đề toàn cầu trong quản lý tài chính của GDĐH: Trường hợp của Việt Nam, Bài viết được trích trong kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế giáo dục so sánh lần thứ 2: “ Giáo dục Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa” do Trường ĐHSP Tp.HCM tổ chức năm 2008.
62 Lê Đức Ngọc (2009), Bàn về quyền tự chủ và TNXH của các cơ sở giáo dục đại họcTrung tâm Đánh giá, Đo lường và Kiểm định chất lượng,Bài viết tại Hội thảo Khoa học “Vấn đề tự chủ-Tự chịu trách nhiệm ở các trường đại học và cao đẳng Việt Nam”.
63 Lê Phước Minh (2010) Quản lý nhà nước và tự chủ tài chính trong các trường đại học, tr. 88-91.
64 Phạm Duy Nghĩa (2012); Phân cấp quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế-cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp
65 Phan Văn Kha (2007), Quản lý Nhà nước về giáo dục, NXB Đại học quốc gia Hà Nội.
66 Phan Văn Kha (2008), Báo cáo tổng kết Đề tài số B 2005-80-TĐ 30 ” Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phân cấp quản lý giáo dục đại học trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Viện KHGD Việt Nam, Hà Nội.
68 Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2005), Một số vấn đề về Giáo dục đại học, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội.
69 Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2009), Quản lý, lãnh đạo nhà trường thế kỷ XXI, NXBĐại học quốc gia, Hà Nội.
70 Nguyễn Thị Mỹ Lộc-Nguyễn Quốc Chí (2010), Lý luận đại cương về quản lý,, tái bản, Hà Nội.
71 Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2012), Những vấn đề cơ bản về quản lý cơ sở giáo dục thường xuyên, tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý cơ sở giáo dục thường xuyên,Hà Nội.
72 Đặng Bá Lãm (2003), Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI,Chiến lược phát triển, NXB Giáo dục, Hà Nội.
73 Đặng Bá Lãm (chủ biên) (2005a), Quản lý nhà nước về giáo dục, lý luận và thực tiễn, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
74 Hồ Thanh Phong (2010), Công tác triển khai tự chủ tài chính theo  NĐ43/2006/NĐ-CP tại các trường đại học quốc tế-ĐH Quốc gia TP.HCM, Bài viết tại Hội thảo khoa học” Đổi mới cơ chế tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học công lập”
76 Phạm Phụ (2005), Về khuôn mặt mới của giáo dục đại học Việt Nam, NXB Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
79 Phạm Phụ (2011), Đổi mới giáo dục đại học:Quyền tự chủ đại học và trách nhiệm xã hội, tr24 trong “Về khuôn mặt mới của giáo dục đại học Việt Nam tập 2, NXB Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
81 Quốc hội (2005), Luật giáo dục 2005.
82 Nguyễn Đông Phong & Nguyễn Hữu Huy Nhựt (2013), Quản trị đại học và mô hình cho trường đại học khối kinh tế ở VN, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 8 (18)-Tháng 01-02/2013.
84 Phạm Quang Sáng (1998), Hiện trạng và giải pháp phân cấp trong quản lý tài chính cho các trường đại học công lập ở Việt Nam, Đề tài cấp Bộ,85 Phạm Quang Sáng (2001),Tính tự chủ và trách nhiệm về tài chính của các đại học, Tạp chí phát triển giáo dục số 4/2001.
86 Phạm Quang Sáng (2006), Chính sách học phí giáo dục đại học ở nước ta, Tạp chí khoa học giáo dục số 4/1-2006.
88 Phạm Vũ Thắng ( 2012), Trung tâm nghiên cứu kinh tế phát triển (CEDS), Đại học kinh tế, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Kết quả nghiên cứu xác định chi phí đào tạo một sinh viên đại học ở Việt Nam và khuyến nghị về chính sách tài chính giáo dục đại học Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học đổi mới cơ chế tài chính đối với GDDH.
89 Vũ Thiệp (2010), Bàn về cơ chế quản lý giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trường đại học, Tài liệu (Quản lý nhà nước và tự chủ tài chính trong các trường đại học, tr. 15-19.
90 Lâm Quang Thiệp (2006), Suy nghĩ về quản lý trường đại học trong nền kinh tế thị trường, kỷ yếu Hội thảo “Đổi mới quản lý giáo dục: Thành tựu, thách thức và các giải pháp”.
91 Lâm Quang Thiệp. D. Bruce jonstone, Philip G. Altbach(2007), Giáo dục đại học Hoa Kỳ. NXB Giáo dục. Hà Nội.
92 Nguyễn Ngọc Vũ (2012), Thực trạng tình hình thí điểm tự chủ tài chính ở các cơ sở giáo dục đại học-một số vấn đề đạt ra, Kỷ yếu Hội thảo: Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học.
94 Bộ Công Thương (2008), Quyết định số 4371/QĐ-BCT, ngày 06 tháng 8 năm 2008, ban hành Quy chế quản lý tài chính trong các đơn vị hành chính, sự nghiệp Bộ Công Thương
95 Bộ Công Thương (2013), kỷ yếu hội nghị triển khai quy hoạch phát triển nhân lực ngành Công Thương.
97 Bộ Công Thương, báo cáo tổng kết công tác đào tạo, đào tạo bồi dưỡng năm học 2009 – 2010;2010-2011;2011-2012;2012-2013
98 Trường Đại học Công nghiệp Việt Trì, báo cáo tổng kết năm học 2009 - 2010; 2010 - 2011; 2011 - 2012; 2012 - 2013.
99 Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, báo cáo tổng kết năm học 2009 - 2010; 2010 - 2011; 2011 - 2012; 2012 - 2013.
100 Trường Đại học Công nghiệp Việt-Hung, báo cáo tổng kết năm học 2009 - 2010; 2010 - 2011; 2011 - 2012; 2012 - 2013.
101 Trường Đại học Công nghiệp Sao Đỏ, báo cáo tổng kết năm học 2009 - 2010; 2010 - 2011; 2011 - 2012; 2012 - 2013.
102 Higher Education Finance and Cost-Sharing in Indonesia (Updated April 2010).
103 AUN (2007). Asian University Network Quality–Assurance: Manual for the implementation of the Guidelines. Tanapress
104 AUN (2012), University social Responsibility and sustaimability, ASEAN University Network (ANU)
106 Clark, B.R. (1994). The Research – Teaching – Study Nexus in Modern Systems of Higher Education, Higher education Policy, 7(1), pp.11-7
107 Estermann, T. and Nokkala, T. (2009), University Autonomy in Europe I. European University Association.
108 EUA (European University Association). (2012). Dimensions of University Autonomy.
109 Ezara Solomon (1963), The theory finalcial management New York and London columbia Universitypress”.
110 Hanson, E.M (1998), Strategies of education decentration: Key questions and core issues. Lournal of Educational Administration, Vol. 36, Iss.2; pg.111.
111 Harvard University. (2012). Harvard University endowment yields flat return for fiscal 2012
112 Hayden, M. And Thiep, L.Q (2006), A vision 2020 for Vietnam,International HE, The Boston college center for International HE. No.47 Spring 2007, pp 11-13).
113 Hayden, M. And Thiep, L.Q (2007), Institutional autonomy for HE in vietnam, HE research & Development. Vol 26, March 2007, pp73-85).
114 Huslay T., the university of Beclin, The Proceedings of university Humboldt 200 (1810-2010), pp74.
115 Newman,j. (1959). The Idea of a University. Garden City.NY: Doubleday
116 IAU (1998), Policy statement: Academic Freedom, University Autonomy and Social Responsibility, International Association of Universities (IAU).
117 ICHEFAP (2010), Higher Education Finance and Cost-Sharing in Indonesia,The International Comparative Higher Education Finance and Accessibility Project (ICHEFAP).
119 Mukherjee, H., & Wong, P. K. (2011). Chapter 5: The National University of Singapore and the University of Malaya: Common Roots and Different Paths. Trong Altbach, P. G., & Salmi, J. The Road to Academic Excellence: The Making of World-Class Research Universities. Washington, D.C.: World Bank.
120 Salmi, J. (2009). The Challenge of Establishing World-Class Universities. Washington, D.C.: World Bank.
121 Thomas Huslay “Đại học Beclin. Các nguyên lý “Kỷ yếu đại học Humboldt 200 năm (1810-2010), trang 74.
122 Anderson, D., & Johnson, R. 1998; University Autonomy in Twenty Countries: Canberra: Department of Employment, Education, Training and Youth Affairs. Commonwealth of Australia 1998.

DOWNLOAD LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC BỘ CÔNG THƯƠNG THEO HƯỚNG TỰ CHỦ VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI