Nguyễn Thụy Thiên Hương
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học môn Văn
Mã số: 60 14 10
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 M. Bakhtin, nhà lý luận phê bình Nga nổi tiếng, cây đại thụ về lý luận thể loại đã khẳng định rằng: “Thể
loại phải là nhân vật chính của tấn bi kịch sử văn học […] Lịch sử văn
học trước hết là lịch sử hình thành, phát triển và tương tác giữa các
thể loại” [6, tr. 7-8]. Lịch sử phát triển văn học đã chứng minh
điều đó và trong đợi sống văn học hôm nay, việc tìm hiểu đặc trưng của
các thể loại văn học càng trở nên quan trọng và cần thiết hơn bao giờ
hết. Đó sẽ là chìa khóa để khám phá những giá trị đích thực của từng tác
phẩm cự thể, cùng với sự vận động và phát triển của một nền van học….
Nguyễn Thị Thanh Lý
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Các
tiên đề tách là một trong những vấn đề trọng tâm của Tôpô đại cương,
định lý Matheron có ứng dụng trong giải tích hàm và trong lý thuyết độ
đo tích phân, lý thuyết xác suất, có liên hệ chặt chẽ với các tiên đề
tách. Đề tài nghiên cứu hai vấn đề trên trong một thể thống nhất.
2. Mục đích
Cho một tài liệu tổng quan về các tiên đề tách và định lý Matheron, trên cơ sở đó cho một số nghiên cứu, tìm tòi mới.
3. Đối tượng nghiên cứu
Tôpô đại cương, lý thuyết độ đo tích phân.
4. Ý nghĩa khoa học thực tiễn
Đề tài cập nhật các kết quả liên quan trong thời gian gần đây để những giới có quan tâm có thể tham khảo, cho một vài kết quả mới. Đề tài có khả năng áp dụng trong lý thuyết độ đo, tích phân và xác suất.
Đỗ Khánh Giang
Chuyên ngành: Toán Giải Tích
Mã số: 60 46 01
MỞ ĐẦU
Phương
pháp biến phân và phương pháp điểm bất động là hai công cụ được sử dụng
rộng rãi để chứng minh sự tồn tại nghiệm của các phương trình toán tử.
Nhiều bài toán của Toán học, Vật lý, Kỹ thuật,….. Dẫn đến việc giải
phương trình A(x) = 0, (1) Trong đó A là 1 ánh xạ từ không gian Banach X
vào không gian liên hợp X*. Phương pháp biến phân để giải phương trình
(1) Là tìm một phiếm hàm f: X? R khả vi sao cho f'(x) = A(x), xX. Khi đó nghiệm của (1) Chính là các điểm tới hạn của phiếm hàm f.......
Lê Bình Nguyên
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1.
Phát triển gd nói chung và phát triển quy mô gd nói riêng một cách có
kế hoạch phù hợp với những điều kiện và những yêu cầu của sự phát triển
ktxh trong từng giai đoạn, và là một nhiệm vụ thường xuyên của các cấp
qlgd;
1.2. Bản thân tác giả của luận văn này, đang là một cán bộ phụ trách việc nghiên cứu và tham mưu cho ban giám đốc sở gd-đt về kế hoạch phát triển giáo dục của tỉnh nhà. Tôi muốn việc nghiên cứu một đề tài (luận văn) Để viết và bảo vệ tốt nghiệp phải là sự kết hợp giữa sự tập luyện, ứng dụng lý luận khoa học qlgd và phương pháp nghiên cứu khoa học về các đề tài
qlgd với sự phục vụ thiết thực và kịp thời cho việc xây dựng kế hoạch
phát triển gd ở tỉnh sóc trăng mà bản thân có trách nhiệm.
1.3. Việc xây dựng kế hoạch phát triển quy mô gd thpt tỉnh sóc trăng đến năm 2010, sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung cho kế hoạch phát triển gd của tỉnh sóc trăng giai đoạn 2006-2010;
1.4.
Việc xây dựng kế hoạch này, không chỉ phục vụ cho sự phát triển của
ngành gd mà còn góp phần vào việc thực hiện mục tiêu văn hóa, khoa học
và gd của kế hoạch phát triển kt-xh nói chung của tỉnh sóc trăng giai
đoạn 2007-2010 với nhu cầu hội nhập khi việt nam đã gia nhập tổ chức
thương mại thế giới (wto).
2. Mục đích nghiên cứu
2.1. Thấy được, đánh giá được thực trạng và nguyên nhân của sự phát triển quy mô gd thpt tỉnh sóc trăng giai đoạn từ 2001 đến nay (năm học 2006-2007); 2
2.2.
Xây dựng được một bản kế hoạch phát triển quy mô gd thpt tỉnh sóc trăng
từ năm học 2007-2008 đến năm học 2010-2011 (kết thúc kế hoạch 5 năm
2006-2010).
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu thực trạng gd thpt tỉnh sóc trăng và một số lĩnh vực kt-xh của tỉnh sóc trăng có liên quan.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
sự phát triển quy mô gd thpt tỉnh sóc trăng từ năm học 2001-2002 đến
nay (năm học 2006-2007) Và kế hoạch phát triển quy mô của cấp học này từ
nay đến năm học 2010-2011.
ĐẶNG THỊ HÒA
PHẦN I - MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1.1.
Đất nước ta đang đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa
(HĐH) Nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ và văn minh.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một cuộc cách mạng về khoa học,
kỹ thuật và công nghệ (KH KT & CN) Đòi hỏi một đội ngũ lao động có
trình độ chuyên môn cao, có trình độ tay nghề vững vàng. Đòi hỏi này chỉ
có thể giải quyết và đáp ứng trên cơ sở phát triển sự nghiệp giáo dục. Có thể phát triển giáo dục bằng nhiều con đường, nhiều chủ trương. Xuất phát từ quan điểm giáo dục
là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, Đảng và Nhà nước ta coi xã hội
hóa (XHH) Giáo dục là một chủ trương lớn nhằm tạo điều kiện cho mọi
người dân được học tập, nâng cao trình độ chuyên môn và trình độ tay
nghề, đồng thời “huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên mọi tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân” (TL. 8-trang 61).
Ngô Hồng Hiệp
Chuyên ngành: Văn học Việt nam
Mã số: 60 22 34
MỞ ĐẦU
1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài
1.1. “Nhắc
đến tên thi sĩ Á Nam Trần Tuấn Khải nhiều người không khỏi cảm thấy xa
xôi như nhắc đến một con người của thế kỷ trước.. .”. Đó là nhận xét của tác giả cuốn “Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải” ở “Lời nói đầu” do
nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1984, một năm sau khi nhà thơ qua đời.
Điều đó cho thấy trong suốt một thời gian dài, tên tuổi và sự nghiệp
thơ văn của Á Nam dường như bị lãng quên. Hơn hai mươi năm nữa trôi qua,
nhân loại đã bước sang thế kỷ mới và cái tên Trần Tuấn Khải dần trở lên
gần gũi hơn nhờ thơ văn của ông được đưa vào giảng dạy ở các cấp học đại học và phổ thông. Tuy nhiên, việc nghiên cứu
và xuất bản thơ văn Á Nam vẫn còn quá ít ỏi, chưa xứng đáng với tầm vóc
của một thi gia lớn buổi giao thời văn học từ trung đại sang hiện đại,
người đã cùng Tản Đà tạo nên cái gạch nối sang Thơ mới, người với những
bài thơ tràn đầy tâm huyết yêu nước được diễn đạt dưới hình thức dân
gian - một thời đông đảo quần chúng yêu mến. Bởi vậy, nghiên cứu
thơ ca Á Nam Trần Tuấn Khải để góp phần xác định vị trí vốn có của một
nhà thơ thuộc thế hệ đầu tiên sáng tác bằng chữ quốc ngữ là việc làm cần
thiết.
Lê Duy Thức
Chuyên Ngành: Toán Giải Tích
Mã Số: 604601
LỜI MỞ ĐẦU
Phép biến đổi Laplace có nhiều áp dụng quan trọng trong khoa học
và kỹ thuật. Bài toán khôi phục hàm gốc từ hàm ảnh trong phép biến đổi
Laplace được nhiều nhà Toán học quan tâm khảo cứu và đến nay có rất
nhiều phương pháp được đưa ra.
Trong luận văn này, chúng tôi khảo sát
một số phương pháp tính xấp xỉ biến đổi Laplace ngược thông qua công
thức cầu phương nội suy. Trong đó chúng tôi đã chứng minh sự hội tụ của
các công thức nội suy, và tính ổn định của nghiệm xấp xỉ thu được, cũng
như minh hoạ việc giải số trên máy tính thông qua một ví dụ cụ thể.
Luận văn được chia làm 4 chương như sau:
Chương 1: Trình bày các kiến thức chuẩn bị cho việc tính toán tích phân Mellin.
Chương
2: Khảo sát một số phương pháp tính tích phân Mellin bằng công thức cầu
phương nội suy. Sau đó là các định lý về sự hội tụ của quá trình nội
suy và tính ổn định của nghiệm xấp xỉ.
Chương 3: Đưa ra công thức cầu phương nội suy với độ chính xác cao nhất.
Chương
4: Xây dựng công thức tính toán cho công thức cầu phương nội suy với hệ
số cân bằng. Cuối cùng là một ví dụ về giải số trên máy tính.
Nguyễn Vũ Thanh
Chuyên ngành: Đại số và lí thuyết số
Mã số: 60 46 05
LỜI NÓI ĐẦU
Trong đại số không giao hoán có khái niệm dày đặc và “định lý dày đặc”
về vành nguyên thuỷ do Jacobson và Chevalley chứng minh làm cơ sở để
chứng minh định lý Kaplansky-Amitsur về đại số nguyên thuỷ trong PI đại
số,định lý dày đặc đã đặt nền móng trong việc xây dựng cấu trúc đại số
đơn, đồng thời mở ra những hướng nghiên cứu mới trong toán học. Tuy nhiên trong sách PI-đại số của tác giả Nathan Jacobson việc chứng minh định lý
Kaplansky-Amitsur có sử dụng kết quả: F là đa thức trong K{X}, ánh xạ (l1, l2,…, ln) →f (l1, l2,…,
ln) Với li F LEndV ∈ = là liên tục trong tôpô hữu hạn và nếu f là đồng
nhất thức trên tập dày đặc trong L thì f là đồng nhất thức trên L mà
không được trình bày và chứng minh rõ ràng. Cũng như vậy trong chứng
minh định lý Formanek về đa thức tâm trên đại số ma trận tác giả của
sách PIđại số cũng chỉ áp dụng các tính chất của tôpô Zariski mà không
có chứng minh.
Dương Minh Thành
Chuyên ngành: Hình học và Tôpô
Mã số: 60 46 10
MỞ ĐẦU
Lý thuyết biểu diễn là một trong những lĩnh vực quan trọng, đóng vai trò cốt yếu trong nhiều hướng nghiên cứu
của toán học và vật lý học hiện đại: Giải tích điều hòa trừu tượng, lý
thuyết số, nhóm đại số, cơ học lượng tử, vật lý hạt cơ bản, lý thuyết
trường lượng tử, hình học đại số, nhóm lượng tử, … Một cách tự nhiên,
bài toán quan trọng nhất của lý thuyết biểu diễn chính là bài toán phân
loại biểu diễn hay còn gọi là bài toán về đối ngẫu unita. Tức là cho
trước một nhóm G, hãy phân loại tất cả các biểu diễn unita bất khả quy
của G (sai khác một đẳng cấu).
Đối
tượng quan trọng của lý thuyết biểu diễn chính là nhóm Lie và đại số
Lie. Nghiên cứu và phân loại biểu diễn của nhóm Lie và đại số Lie cho ta
những thông tin
về chính nhóm đó và của các đại số nhóm tương ứng. Để giải quyết bài
toán này, A. A. Kirillov (xem [Ki]) Đã phát minh ra phương pháp quỹ đạo
và nhanh chóng trở thành một công cụ đắc lực của lý thuyết biểu diễn.
Phương pháp này cho phép ta nhận được tất cả các biểu diễn unita bất khả
quy của mỗi nhóm Lie liên thông, đơn liên, giải được từ các K-quỹ đạo
nguyên của nó. Trong khoảng thập niên 60 và 70 của thế kỷ trước, phương
pháp quỹ đạo Kirillov được nhiều nhà toán học trên thế giới như L.
Auslander, B. Kostant, Đỗ Ngọc Diệp, … nghiên cứu, cải tiến, mở rộng và áp dụng trong lý thuyết biểu diễn nhóm Lie.
Đóng
vai trò then chốt trong phương pháp quỹ đạo Kirillov chính là các Kquỹ
đạo của biểu diễn đối phụ hợp (hay còn gọi là K-biểu diễn). Do đó, việc
mô tả các K-quỹ đạo của mỗi nhóm Lie, nhất là các nhóm Lie liên thông
giải được, có ý nghĩa quan trọng trong lý thuyết biểu diễn nhóm Lie.
Nguyễn Thị Mai Lê
Chuyên ngành: Toán Giải Tích
Mã số: 60.46.01
MỞ ĐẦU
Cũng như các môn khoa học khác, phương trình vi phân xuất hiện trên cơ sở phát triển của khoa học,
kĩ thuật và những yêu cầu của đòi hỏi thực tế. Lí thuyết phương trình
vi phân đóng vai trò quan trọng trong ứng dụng thực tiễn của Toán học.
Hầu hết các quá trình tự nhiên đều tuân thủ theo một qui luật
nào đó mà phương trình vi phân có thể mô tả được. Bằng chứng là các
ngành Toán học, Cơ học, Vật lí, Hóa học, Sinh vật, Kinh tế, Sinh thái
môi trường… và Xã hội học đều liên quan đến phương trình vi phân. Lí
thuyết phương trình vi phân nói chung và lí thuyết các bài toán biên nói
riêng đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc phát hiện ra một số lượng lớn các
ứng dụng, đặc biệt là trong khoa học.
Lê Lan Hương
Chuyên ngành: Đại số
Mã số: 1.01.03
LỜI MỞ ĐẦU
Jacobson Nathan _ nhà toán học Mỹ gốc Ba Lan là một chuyên gia trong lĩnh vực Lý thuyết các Vành và Module. Năm 1943, ông đưa ra khái niệm radical của một vành, được giới toán học cho là thỏa đáng hơn khái niệm cùng loại mà Gottfied Kother thuộc trường phái Emmy Nother đã đưa ra.
Người
ta gọi Jacobson radical của một vành giao hoán A là giao của các ideal
tối đại của A, ký hiệu là: RadA. Jacobson chứng minh rằng radA là tập
các phần tử a của A sao cho 1 - ax, với x? A, là khả nghịch trong vành
A.
Tổng
quát hơn, nếu A là đại số không giao hoán thì Jacobson radical của A
được định nghĩa là tập hợp tất cả các phần tử của A linh hóa được tất cả
các mođun bất khả quy trên A.
Trong luận văn
này, dựa trên cơ sở lý thuyết của đại số không giao hoán và các PI-đại
số, chúng tôi tìm hiểu về tính chất của Jacobson radical của các PI-đại
số và hơn nữa là xem xét Jacobson radical của các PI-đại số phổ dụng
trên một vành giao hoán có đơn vị.
Luận văn gồm 3 chương:
Chương
I: Chúng tôi trình bày các vấn đề cơ bản của đại số không giao hoán,
các khái niệm radical của một đại số, các định nghĩa và tính chất của
ideal nguyên tố, ideal nửa nguyên tố.
Chương
II: Chúng tôi trình bày một số định nghĩa và tính chất của các PIđại
số, trong đó có trình bày một định lí cơ bản về đồng nhất thức đa thức,
đó là định lý Kaplansky-Amitsur-Levitzki. Đồng thời, chúng tôi cũng xem
xét các PI-đại số thỏa mãn đồng nhất thức chính quy mạnh và địa phương
hóa giao hoán. Từ đó, chúng tôi trình bày các định nghĩa tương đương của
PI-đại số, đưa ra khái niệm và một số tính chất của các PI-đại số phổ
dụng.
Chương III: Chúng tôi trình bày tính chất của Jacobson Radical của các PIđại số phổ dụng.
Lê Thị Ngọc Dung
Chuyên ngành: QLGD
Mã số: 60 14 05
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tệ
nạn ma túy là hiểm họa đối với con người, xã hội và đang đe dọa toàn
thế giới. Muốn giữ một môi trường xã hội trong sạch, an lành, chúng ta
không chỉ cần những biện pháp triệt để của các cơ quan chức năng, mà còn
cần sự phối hợp hành động của mọi người, mọi ban, ngành, đoàn thể, mọi
tổ chức xã hội. Đấu tranh chống tệ nạn ma túy và giáo dục
nhân cách thanh niên đang là vấn đề bức xúc hiện nay của thành phố Hồ
Chí Minh khi số lượng người nghiện ma túy đã tăng lên đến hơn 30.000
người. Đa số họ đã, đang trong quá trình cai nghiện, rèn luyện
và phục hồi nhân cách. Người nghiện ma túy là những người đã bị giảm
sút nghiêm trọng về năng lực nhận thức, phẩm chất, nhân cách… họ rất dễ
trở thành tội phạm, thành tệ nạn xã hội. Giai đoạn cai nghiện ma túy
đồng thời cũng là quá trình phục hồi nhân cách của người cai nghiện. Đó
là một quá trình vô cùng khó khăn, phức tạp, đòi hỏi không chỉ nỗ lực
phi thường của bản thân người nghiện, mà còn cần sự hỗ trợ của gia đình
và xã hội [9, tr. 8 -19].
Ý
thức được tình hình cấp bách và trách nhiệm to lớn đối với từng số phận
con người, với cộng đồng và xã hội, Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí
Minh (UBND - TP. HCM) Đã ra chủ trương xóa bỏ triệt để tệ nạn ma túy,
xây dựng một xã hội văn minh, an lành. Tuy vậy, tỷ lệ người tái nghiện
còn rất cao, lên tới 80%. Một trong những nguyên nhân tái nghiện là
những người sau cai nghiện chưa có một nghề nghiệp vững chắc giúp họ có
thể kiếm sống, có điều kiện thuận lợi tái hòa nhập cộng đồng, trở thành
người lao động chân chính, góp phần xây dựng đất nước, [39, tr. 39-43].
Điều này đặt ra cho chúng ta một vấn đề bức xúc: Có thể nghiên cứu
thực trạng hoạt động quản lý việc dạy nghề và đề ra giải 10 pháp nâng
cao hiệu quả quản lý việc dạy nghề giúp người cai nghiện có nghề nghiệp
vững vàng để hòa nhập cộng đồng, góp phần hạn chế tối đa hậu quả của tệ
nạn ma túy, xây dựng môi trường tốt đẹp cho xã hội. Với ý nghĩa đó,
chúng tôi chọn đề tài “Thực
trạng hoạt động quản lý việc dạy nghề cho học viên tại các trường cai
nghiện ma túy của thành phố Hồ Chí Minh và các giải pháp”. Qua đề tài này, chúng tôi mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động này.
Lã Thị Oanh
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đại
Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam toàn quốc lần thứ IX đã đề ra mục tiêu tổng
quát của chiến lược phát triển kinh tế 10 năm từ 2001 - 2010 là: “Đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao chất lượng
rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng
để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng
hiện đại”.
Nhân
tố quyết định thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH mà Đảng đề ra chính là nguồn
lực con người, bởi lẽ, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
sự phát triển. Vì vậy, muốn tiến hành CNH, HĐH thành công tất yếu phải
thúc đẩy phát triển sự nghiệp giáo dục thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài.
Đối với công tác GD&ĐT thì ĐNGV đóng vai trò cực kỳ quan trọng, điều này đã được Luật Giáo Dục khẳng định: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục” (27). Đội ngũ giáo viên là nhân tố quyết định của giáo dục. Chính vì vậy việc phát triển và nâng cao chất lượng ĐNGV là nhiệm vụ cấp thiết của toàn ngành giáo dục. Thực tế hiện nay, chất lượng giáo dục
còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của đất nước là do nhiều
nguyên nhân, trong đó có các nguyên nhân cơ bản: Đội ngũ giáo viên vừa
thiếu, vừa yếu, CSVC chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ cho công tác
GD&ĐT, chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề giáo dục toàn diện, chưa đầu tư thỏa đáng đúng với tinh thần “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển”.
Việc xây dựng các trường đạt chuẩn quốc gia nhằm có những chuyển biến thực sự về chất lượng giáo dục đào tạo
là một trong những yêu cầu cấp thiết và đang đặt ra nhiều vấn đề về
công tác quản lý đối với ngành Giáo dục & Đào tạo cũng như các cấp
ủy Đảng, Chính quyền địa phương. Ngày 05/07/2001. Bộ trưởng Bộ GD&ĐT
đã ra Quyết định số 27/2001 - QĐ- BGD&ĐT về việc “Ban hành Quy chế công nhận trường trung học đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2001 đến 2010”,
song đến nay việc tổ chức thực hiện vẫn còn nhiều lúng túng, còn nhiều
vấn đề cần được 3 quan tâm, tìm ra các giải pháp cho phù hợp để có thể
vừa đáp ứng được yêu cầu đặt ra của ngành, vừa đáp ứng được yêu cầu thực
tế của địa phương.
DƯƠNG THỊ MAI PHƯƠNG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Tăng qui mô đào tạo
để đáp ứng nhu cầu về nhân lực của sự phát triển kinh tế xã hội là một
chủ trương kiên định của Đảng và Nhà nước ta trong nhiều năm nay. Nhu
cầu nhân lực trình độ cao theo đà phát triển của kinh tế-xã hội nước ta
ngày càng khẳng định sự đúng đắn của chủ trương đó. Mặc khác, nhu cầu
được học của phần đông dân chúng trong hoàn cảnh sinh hoạt và cuộc sống
không có điều kiện theo học tại các trường đại học truyền thống đã hình thành hình thức đào tạo từ xa. “Đa dạng hóa các loại hình đào tạo để tạo điều kiện cho người dân được học hành” là một trong các nội dung của xã hội hóa giáo dục
của Đảng ta. Việc ra đời của Đại học Mở Bán công Thành phố Hồ Chí Minh
(ĐHMBCTP. HCM), tháng 7 năm 1993 theo quyết định của Thủ Tướng Chính phủ
(trên cơ sở Viện Đào tạo Mở rộng II Thành phố Hồ Chí Minh được thành
lập tháng 6 năm 1990) Là một quyết định đúng đắn nhằm thực hiện chủ
trương xã hội hóa giáo dục của Đảng.
ĐHMBCTP. HCM là đơn vị đầu tiên trong cả nước áp dụng đào tạo bậc đại học theo hình thức đào tạo từ xa. Đào tạo theo hình thức đào tạo từ xa là đặc trưng cơ bản của Đại học Mở, là hình thức đào tạo chủ yếu để thực hiện chính sách mở trong giáo dục, là phương tiện để tiến hành dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục, thực hiện bình đẳng trong giáo dục.
Đây là nhiệm vụ trung tâm mà Nhà nước giao cho ĐHMBCTP. HCM, được ghi
rõ trong điều 2 quyết định số 389/TTg của Chính phủ ký ngày 26/7/1993.
2. Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý đào tạo từ xa, làm rõ thực trạng của sự quản lý này tại ĐHMBCTP. HCM và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của sự quản lý đó.
ĐINH NHO THẮNG
CHUYÊN NGÀNH: GIẢI TÍCH
MÃ SỐ: 60 46 01
LỜI NÓI ĐẦU
Giải tích Fourier hay giải tích điều hòa đã được khai sinh bằng các công trình của Fourier, Euler và một số nhà toán học khác trên cơ sở nghiên cứu
về chuỗi lượng giác. Vì những ứng dụng quan trọng của nó nên giải tích
Fourier không ngừng được mở rộng và phát triển và cho đến nay các nghiên cứu về giải tích Fourier vẫn là một vấn đề thời sự của toán học. Giải tích Fourier là một công cụ đắc lực để nghiên cứu
phương trình đạo hàm riêng và lý thuyết số đại số. Nhiều lĩnh vực của
toán học được hình thành từ giải tích Fourier. Hai vấn đề quan trọng của
giải tích Fourier là biến đổi Fourier và phân bố. Luận văn của chúng
tôi đặt mục tiêu khiêm tốn là trình bày một cách ngắn gọn nhưng tương
đối đầy đủ hai vấn đề kể trên. Để chứng tỏ giải tích Fourier là một công
cụ mạnh để nghiên cứu, chúng tôi đã trình bày một số ứng dụng cụ thể.......
Trần Thanh Liêm
Chuyên ngành: Đại số và lí thuyết số
Mã số: 60 46 05
MỞ ĐẦU
Các
kiến thức về Nhóm, Vành, Trường là một trong những kiến thức cơ bản của
Đại số trừu tượng được rất nhiều các nhà Toán học quan tâm, nghiên cứu. Trong đó, các kiến thức về Vành đóng một vai trò khá quan trọng, đã có rất nhiều đề tài và công trình nghiên cứu về mảng kiến thức này.
Trên tinh thần đó, luận văn
cũng tập trung tìm hiểu sâu sắc hơn về các tính chất của các phần tử
trong những vành cụ thể mà đặc biệt là Tính lũy linh của các giao hoán
tử trong vành nguyên tố. Đó cũng là mục đích chính của luận văn.
Lương Công Thắng
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học môn hóa học
Mã số: 60.14.10
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Một
trong những mục tiêu dạy học hóa học ở Trung học phổ thông là ngoài
việc truyền thụ kiến thức hóa học phổ thông cơ bản còn cần mở rộng kiến
thức, hình thành cho học sinh phương pháp học tập khoa học, phát huy tính chủ động, sáng tạo, rèn luyện năng lực nhận thức, tư duy hóa học thông qua các hoạt động học tập đa dạng, phong phú. Như vậy, ngoài nhiệm vụ đào tạo toàn diện cho thế hệ trẻ, việc dạy học hóa học còn có chức năng phát hiện, bồi dưỡng, nâng cao tri thức cho những học sinh có năng lực, hứng thú trong học tập bộ môn. Nhiệm vụ này được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau. Trong đó bài tập hóa học là một trong những phương tiện giúp học sinh rèn luyện được tư duy.
Giải
một bài toán hóa học bằng nhiều phương pháp khác nhau là một trong
những nội dung quan trọng trong dạy học hóa học ở trường phổ thông.
Phương pháp giáo dục ở ta hiện nay còn nhiều gò bó và hạn chế tầm suy nghĩ, sáng tạo của học sinh. Bản thân các em học sinh
khi đối mặt với một bài toán cũng thường có tâm lý tự hài lòng sau khi
đã giải quyết được bài toán bằng cách nào đó, mà chưa nghĩ đến chuyện
tìm cách giải tối ưu, giải quyết bài toán bằng cách nhanh nhất. Do đó,
giải bài toán hóa học bằng nhiều cách khác nhau là một cách để rèn luyện
tư duy và kỹ năng học hóa của mỗi người, giúp ta có khả năng nhìn nhận
vấn đề theo nhiều hướng khác nhau, phát triển tư duy logic, sử dụng
thành thạo và tận dụng tối đa các kiến thức đã học. Đối với giáo viên,
suy nghĩ về bài toán và giải bài toán bằng nhiều cách là một hướng đi có
hiệu quả để tổng quát hoặc đặc biệt hóa, liên hệ với những bài tập cùng dạng, điều này góp phần hỗ trợ phát triển các bài tập hay và mới cho học sinh.
Vì vậy chúng tôi chọn đề tài: “Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học có nhiều cách giải để rèn luyện tư duy cho học sinh lớp 12 Trung học phổ thông “. Hy vọng đề tài này sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường THPT.
NGUYỄN THỊ HẢO
Khoá: K32 (2006-2010)
LỜI MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết, giáo dục được xem như một quốc sách hàng đầu của đất nước, phát triển giáo dục được xem như một nhiệm vụ trọng tâm mà cả toàn xã hội cần phải quan tâm. Trong nền kinh tế tri thức hiện nay, mục tiêu của giáo dục là nhằm đào tạo
ra những con người mới đủ năng lực, trí tuệ, phẩm chất đáp ứng với nhu
cầu của xã hội. Chính sự phát triển ngày càng cao của xã hội cũng như
nhu cầu nguồn nhân lực có trình độ ngày càng cao đã đặt cho giáo dục một bài toán về sự đổi mới. Nền giáo dục phải không những ở chương trình học, phương pháp dạy học, quản lý giáo dục mà còn cần có sự thay đổi cả trong phương thức kiểm tra đánh giá.
Nếu như hình thức trắc nghiệm được xem như phổ biến ở một số nước trên
thế giới thì từ trước đến nay, hình thức tự luận được xem là phổ biến
trong việc kiểm tra đánh giá chất lượng dạy học của học sinh ở Việt Nam. Trong những năm gần đây, hình thức kiểm tra
trắc nghiệm khách quan đã bước đầu được áp dụng, và đã bước đầu thể
hiện được những ưu điểm của nó so với hình thức tự luận như: Có thể kiểm tra kiến thức ở mức độ bao quát hơn, hạn chế được tình trạng học tủ, học vẹt của học sinh, hạn chế những tiêu cực trong công tác kiểm tra, đánh giá….
Ngoài ra, trong những năm gần đây, việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở một số môn học đã chuyển dần từ hình thức tự luận sang trắc nghiệm, đặc biệt là trong các kì thi tốt nghiệp, tuyển sinh đại học, cao đẳng. Do đó hứa hẹn trong thời gian sắp tới thì hình thức này sẽ càng phổ biến hơn nữa.
Không chỉ ở cấp học phổ thông mà ở bậc đại học,
hình thức trắc nghiệm khách quan cũng đã được áp dụng ở nhiều trường và
thể hiện được nhiều ưu điểm. Đối với trường Đại học Sư Phạm thì hình
thức kiểm tra
trắc nghiệm lại có một ý nghĩa khá quan trọng, nó giúp cho sinh viên
quen với hình thức trắc nghiệm để khi giảng dạy chính thức thì sẽ không
bỡ ngỡ với hình thức đánh giá đang phổ biến này.
Đối
với Khoa Vật Lý, trường Đại học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh, hình thức trắc
nghiệm đã được áp dụng vào một số môn học, trong đó có môn Quang Học.
Tuy nhiên vẫn chưa được nhiều, và chủ yếu áp dụng trong những đợt kiểm tra giữa kì, nên kinh nghiệm mà sinh viên rút ra từ những đợt kiểm tra chưa được nhiều.
Với mong muốn có cơ hội thực hành phương pháp trắc nghiệm khách quan, và thúc đẩy hình thức kiểm tra trắc nghiệm khách quan ở bộ môn Quang học trong chương trình Vật Lý đại cương, em đã chọn đề tài “Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan chương “Phân cực ánh sáng trong chương trình Vật Lý đại cương”. Đây được xem như một trong những chương có nhiều kiến thức quan trọng mà sinh viên cần phải hiểi rõ.