LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA DỰ BÁO NHU CẦU NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
NCS: TRẦN THỊ PHƯƠNG NAM
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị
quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo có quan điểm chỉ đạo: “Phát
triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã
hội và bảo vệ Tổ quốc; Với tiến bộ khoa học và công nghệ; Phù hợp quy
luật khách quan. Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo
số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu
cầu số lượng”. Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của
Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học (GDĐH) Việt
Nam giai đoạn 2006-2020 cũng có quan điểm chỉ đạo: “Gắn kết chặt chẽ
đổi mới giáo dục đại học với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội,…
nhu cầu nhân lực trình độ cao của đất nước và xu thế của khoa học và
công nghệ”. Ưu tiên đào tạo nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) Là một trong
những mục tiêu quan trọng nhất của chiến lược phát triển giáo dục nước
ta trong hiện tại và tương lai.
Với
xu thế toàn cầu hoá và cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển như
vũ bão, đặc biệt Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO), để có thể cạnh tranh có hiệu quả, giáo dục phải thực sự là quốc
sách hàng đầu, đáp ứng kịp thời nguồn nhân lực về số lượng, cơ cấu và
chất lượng, phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ và nhu cầu
của phát triển kinh tế – xã hội. Đồng thời, giáo dục cũng phải góp phần
giữ gìn bản sắc của mỗi dân tộc trong quá trình hội nhập và phát triển.
Thực
tiễn cho thấy giáo dục chính là một trong những yếu tố quan trọng nhất
để đánh giá sự phát triển của một quốc gia. Một nền kinh tế có tốc độ
phát triển cao hôm nay có thể sụp đổ ngày mai, nhưng một nền giáo dục
bền vững sẽ đảm bảo khả năng cạnh tranh của một quốc gia trong 50 năm
hoặc thậm chí là 100 năm tới. Bác Hồ cũng đã từng nói: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”.
Ngân hàng Thế giới cũng đã đưa ra báo cáo xếp loại sự giàu có của một
quốc gia, theo đó tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Không còn là tiêu chuẩn
hàng đầu để đánh giá, mà dành tầm quan trọng cho các yếu tố tài nguyên
thiên nhiên, chất lượng môi trường, giáo dục và tính cơ động của xã hội.
Giáo
dục vừa được hưởng lợi từ phát triển kinh tế, vừa là nhân tố chính nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực, là điều kiện, tiền đề cho phát triển
kinh tế. Giáo dục đóng góp vào việc tạo ra nguồn lao động có thái độ và
kỷ luật lao động, có kiến thức và kỹ năng, có sức khoẻ - nhân tố quyết
định tăng năng suất lao động. Năng suất lao động tăng sẽ đóng góp chủ
yếu vào việc tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập của người dân; Đưa giáo
dục đến với người nghèo và có thể coi đây là biện pháp hiệu quả nhằm
tăng thêm việc làm để nâng cao đóng góp của họ vào tổng thu nhập. Giáo
dục là con đường chủ đạo sản sinh khoa học, những thành tựu của khoa học
xác định trình độ và tính chất của sản xuất, còn hệ thống giáo dục xác
định trình độ phát triển của khoa học thời kỳ tiếp theo. Ở Việt Nam nói
riêng và các nước nói chung, số người có nhu cầu học ở đại học không
ngừng gia tăng. Sự gia tăng này không chỉ do sự gia tăng tự nhiên và cơ
học của dân số ở mỗi quốc gia mà còn thể hiện nhu cầu được hiểu biết,
được tiếp cận những kiến thức, kỹ năng mang lại thu nhập tốt hơn trong
thời đại nền kinh tế tri thức đang ngày càng chiếm lĩnh ưu thế. Đối
tượng người học cũng ngày càng đa dạng. Mạng lưới các cơ sở giáo dục đại
học cũng phát triển nhanh nhưng vẫn chưa phù hợp với nhu cầu xã hội.
Quy mô nhân lực có trình độ CĐ, ĐH có chiều hướng gia tăng nhưng cung và
cầu vẫn còn chưa gặp nhau, các doanh nghiệp vẫn phải đi tìm người,
trong khi đó số SV ra trường nhưng chưa có việc làm phù hợp với chuyên
môn cũng còn tương đối nhiều. Điều này đòi hỏi cần có những dự báo đảm
bảo tính khoa học về nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học để các
trường có căn cứ xác định cơ cấu đào tạo của mình.
Các
đề tài, nghiên cứu về dự báo nói chung, dự báo giáo dục và dự báo nhân
lực cũng đã được thực hiện không ít. Tuy nhiên, những nghiên cứu riêng
về dự báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học (CĐ, ĐH) Còn chưa
được thể hiện rõ nét, gần đây mới chỉ tập trung vào thử nghiệm một số mô
hình dự báo cầu nhân lực có trình độ CĐ, ĐH. Những khó khăn về cơ sở dữ
liệu khi áp dụng các mô hình dự báo trong điều kiện Việt Nam hiện nay
đã được đề cập, song các phương án thay thế giữa các biến hoặc hoàn
thiện cơ sở dữ liệu cũng cần tiếp tục đề xuất có sức thuyết phục mạnh
hơn. Trong các nghiên cứu đã thực hiện, cơ sở khoa học để hình thành dự
báo nhu cầu nhân lực trình độ đại học, cao đẳng chưa được giải quyết
triệt để và những khó khăn khi áp dụng các mô hình dự báo trong điều
kiện Việt Nam hiện nay chưa được xác định rõ ràng. Điều này đang đòi hỏi
phải hệ thống hóa, bổ sung cả về lý luận và thực tiễn nhằm tăng sức
thuyết phục, độ tin cậy của các mô hình dự báo nhu cầu nhân lực có trình
độ CĐ, ĐH.
Chính vì các lý do cơ bản trên, việc lựa chọn nghiên cứu “Cơ sở khoa học của dự báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam” là đúng đắn và đáp ứng yêu cầu cấp thiết của hoạt động quản lý giáo dục hiện nay.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên
cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất quy trình, kỹ thuật và
các giải pháp tăng cường các điều kiện để dự báo nhu cầu nhân lực trình
độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam đảm bảo được độ tin cậy và đáp ứng được
các yêu cầu của thực tiễn.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Nhân lực trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Dự báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam.
4. Giả thuyết khoa học
Dự
báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học là một nhiệm vụ thiết
yếu của công tác quản lý giáo dục hiện nay, là cơ sở cho việc xây dựng,
hoạch định các chính sách đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội. Tuy
nhiên, nhận thức còn khác nhau và thực hiện còn nhiều hạn chế, yếu kém
về dự báo nhu cầu nhân lực ở nước ta; Nếu chỉ rõ được các nhân tố tác
động đến nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học và trên cơ sở đó
định hình được các phương pháp, quy trình dự báo và đề xuất các giải
pháp tăng cường các điều kiện để thực hiện dự báo thì kết quả dự báo nhu
cầu nhân lực có độ tin cậy cao - làm cơ sở cho hoạch định chính sách
đào tạo và sử dụng nhân lực có trình độ cao đẳng, đại học.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận án thực hiện những nhiệm vụ chính sau:
- Nghiên cứu xác lập cơ sở lý luận của dự báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học
-
Nghiên cứu kinh nghiệm dự báo nhu cầu nhân lực của một số nước trên thế
giới, từ đó rút ra bài học cho dự báo nhân lực trình độ cao đẳng, đại
học ở Việt Nam.
-
Phân tích, đánh giá thực trạng dự báo và các điều kiện để thực hiện dự
báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam
- Thử nghiệm dự báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học của nước ta đến 2020.
-
Đề xuất quy trình, kỹ thuật và giải pháp tăng cường các điều kiện để dự
báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam
6. Giới hạn của đề tài
Nhu
cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học thể hiện ở các mặt: Số lượng,
cơ cấu theo ngành đào tạo và chất lượng; Do những khó khăn về cơ sở dữ
liệu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học theo cơ cấu ngành đào tạo, chất
lượng đào tạo và trong khuôn khổ phạm vi nghiên cứu của mình, luận án
tập trung nghiên cứu cơ sở khoa học của các phương pháp dự báo định
lượng dự báo qui mô nhu cầu nhân lực trình độ CĐ, ĐH của cả nước.
7. Phương pháp tiếp cận và các phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp tiếp cận
Phương
pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng là cơ sở lý luận chung của
mọi nhận thức khoa học. Vận dụng các nguyên lý, quy luật, cặp phạm trù
của phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu, xem xét
mối quan hệ của kinh tế - xã hội với nhu cầu đào tạo đại học.
Phương
pháp luận của dự báo nghiên cứu tương lai của đối tượng dự báo dưới các
khía cạnh của bản thể luận, lôgíc học và nhận thức luận. Bản thể luận
cho biết tương lai của đối tượng sẽ phát sinh hình thành như thế nào, mô
tả bức tranh toàn cảnh của tương lai đó, đồng thời chỉ ra những nhân tố
sẽ ảnh hưởng đến tương lai của đối tượng dự báo. Logic học xem xét dự
báo như những khái niệm khoa học chung nhất nhằm giải thích nội dung
khách quan của quá trình và kết quả lập dự báo. Nhận thức luận có nhiệm
vụ làm sáng tỏ tương lai được phản ánh như thế nào trong nhận thức của
con người, các hình thức phản ánh và tính chính xác của những phản ánh
đó.
Phép
duy vật biện chứng là cơ sở phương pháp luận của mọi dự báo khoa học.
Trong hệ thống các quy luật biện chứng, khi tiến hành lập dự báo, chúng
ta đặc biệt lưu tâm đến nguyên lý về mối liên hệ nhân quả, một mặt là cơ
sở khoa học của các tiên đoán, mặt khác là nền tảng, chỗ dựa cho những
hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện các mục tiêu dự báo.
Một
nguyên lý khác của phép duy vật biện chứng cũng quan trọng, đó là
nguyên lý quyết định luận. Tính chất quyết định luận duy vật biện chứng
khẳng định rằng tương lai được xác định không hoàn toàn bởi cái hiện hữu
mà tồn tại một phần trong các sự kiện, đối tượng được dự báo. Điều đó
có nghĩa là ở mỗi thời điểm của sự phát triển, có nhiều khả năng, nhiều
con đường khác nhau để đạt tới trạng thái tương lai. Mặt khác, đặc trưng
xác suất của trạng thái tương lai không ngăn cản việc dự báo các trạng
thái đó, mà ngược lại, đó là một tiền đề quan trọng của dự báo có tính
khoa học hiện đại.
Một số cách tiếp cận chính sau đây đã được sử dụng trong nghiên cứu luận án:
7.1.1. Cách tiếp cận lịch sử, lôgic
Là cách tiếp cận một hiện tượng trong mối liên hệ qua lại với các hình thức tồn tại lịch sử của nó. Lênin đã nói rằng: “trong
bất cứ hiện tượng xã hội nào, nếu xem xét trong quá trình phát triển
của nó đều có tàn dư của quá khứ, cơ sở của hiện tại và mầm mống của
tương lai”. Như vậy, từ mối liên hệ giữa quá khứ, hiện tại và tương
lai đòi hỏi phải xem xét tương lai của đối tượng như một khả năng tồn
tại tiếp diễn của cái hiện tại và quá khứ của đối tượng đó. Điều đó có
nghĩa là việc lập dự báo phải gắn liền với việc dịch chuyển các quy
luật, tính quy luật, xu thế đã và đang tồn tại, trên cơ sở đó xác định
mô hình tương lai của đối tượng dự báo. Nhưng sự dịch chuyển này không
phải là sự dịch chuyển cơ giới mà phải là sự dịch chuyển biện chứng, vì
vậy phải xem xét các quy luật ấy, xu thế ấy trong sự biến đổi, phát
triển của chính nó, trong sự liên hệ với các hệ thống quy luật khác ở
xung quanh có tác động đến sự tồn tại và phát triển của nó. Nếu ngược
lại chỉ là phép ngoại suy đơn giản thì kết quả thu được không phải là
nhìn thấy trước triển vọng mà chỉ khẳng định, nhìn lại những gì đã diễn
ra trong quá khứ.
Trong
tiếp cận lịch sử, sự liên hệ của dự báo với thực tiễn cũng là một vấn
đề quan trọng. Thực tiễn là cơ sở cho những dự báo kinh tế - xã hội và
các dự báo khác, và không thể được xem xét biệt lập với lịch sử phát
triển.
Trong
mối quan hệ hữu cơ với thực tiễn, dự báo không đơn giản dừng lại ở mức
độ nhận thức, dù là nhận thức trước, nhận thức đón đầu, mà phải trở
thành công cụ tác động vào hoạt động thực tiễn của con người nhằm cải
tạo hiện thực khách quan.
Phát
triển nhân lực của đất nước không thể tách rời với bối cảnh xã hội -
lịch sử nhất định. Vì vậy khi nghiên cứu vấn đề về nhân lực trình độ
CĐ,ĐH cần xem xét nó trong mối quan hệ với thể chế kinh tế - xã hội nhất
định.
Trong
bối cảnh xã hội – lịch sử hiện nay, yêu cầu giáo dục – đào tạo cần phải
đổi mới căn bản và toàn diện, vì vậy đào tạo nhân lực có trình độ cao
đẳng, đại học cũng cần có những giải pháp nghiên cứu, áp dụng kết quả
nghiên cứu nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội. Các nghiên cứu đều được dựa
trên dãy số liệu theo chuỗi thời gian, trong những điều kiện lịch sử với
các mốc thời gian cụ thể, để từ đó rút ra những quy luật/ xu hướng mang
tính logic của quá trình phát triển. Vận dụng cách tiếp cận lịch sử sẽ
giúp cho việc phóng chiếu các mô hình nhân tố từ quá khứ sang tương lai
một cách có luận cứ thực tiễn nhằm đạt mục tiêu thử nghiệm của luận án.
Với
dự báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học, tiếp cận lịch sử là
phương pháp tiếp cận quan trọng vì phải dựa trên dãy số liệu quá khứ,
tương lai được dự báo theo xu thế của quá khứ và hiện tại, trên cơ sở đó
dịch chuyển xu thế cho tương lai.
7.1.2. Cách tiếp cận phức hợp
Cơ
sở triết học của sự ra đời cách tiếp cận này là nguyên lý nổi tiếng của
phép biện chứng duy vật về mối liên hệ phổ quát của các hiện tượng và
sự vật. Cách tiếp cận phức hợp xem xét các hiện tượng, sự vật trong mối
quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau của chúng bằng cách sử dụng các
thành tựu, các phương pháp của khoa học khác nhau cùng nghiên cứu sự
vật, hiện tượng nhằm bộc lộ đầy đủ các khía cạnh của bản chất sự vật,
hiện tượng được nghiên cứu. Cách tiếp cận phức hợp thể hiện đặc biệt rõ
rệt trong dự báo nhân lực. Dự báo nhân lực đòi hỏi sự tham gia của nhiều
khoa học khác nhau, với lực lượng cán bộ khoa học, phương pháp và thành
tựu của mỗi khoa học ấy, thí dụ: Triết học, tâm lý học, giáo dục học,
kinh tế học, dân só học,... Và không thể thiếu toán học.
Cụ
thể, với dự báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học, chúng ta
phải xem xét nhóm nhân lực này trong mối quan hệ với kinh tế gia đình,
với kinh tế vùng miền, với lực lượng lao động và sự phát triển của dân
số.
7.1.3. Cách tiếp cận cấu trúc - hệ thống
Cách
tiếp cận này dựa trên nguyên lý: Một mặt, ta phải xem xét đối tượng dự
báo như một hệ thống trong sự vận động phát triển của nó, mặt khác ta
lại phải xem nó như một thành tố trong một hệ thống toàn vẹn khác, trên
cơ sở đó phát hiện các tính quy luật vận động, phát triển của mỗi thành
tố, của các quan hệ cũng như của toàn bộ đối tượng với tư cách là một hệ
thống trọn vẹn. Trong dự báo nhân lực, cách tiếp cận hệ thống – cấu
trúc này đóng một vai trò quan trọng, cho phép tiến hành những dự báo
cục bộ cũng như toàn cục sự phát triển kinh tế - xã hội, làm tiền đề cho
việc hoạch định chính sách phát triển nhân lực bằng một căn cứ khoa
học.
Chúng ta coi “nhân lực trình độ cao đẳng, đại học” là một tiểu hệ thống trong hệ thống lao động toàn vẹn. Sự phát triển của “nhân lực trình độ cao đẳng, đại học” cũng có những qui luật vận động độc lập, tương ứng với sự vận động phát triển chung của hệ thống giáo dục và kinh tế - xã hội.
Với cách tiếp cận hệ thống, coi “nhân lực có trình độ cao đẳng, đại học”, “kinh tế”, “xã hội” và “giáo dục”
là những hệ thống con trong hệ thống lớn kinh tế – xã hội; Luận án đi
sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế (GDP, GDP bình quân
đầu người, cơ cấu kinh tế,...), yếu tố xã hội (lực lượng lao động, dân
số độ tuổi,...) Đến nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học; Một mặt
xác định: Đào tạo nhân lực phải phục vụ cho việc phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước; Mặt khác, nhu cầu về nhân lực được đào tạo cũng
luôn chịu tác động trực tiếp của hệ thống kinh tế - xã hội. Do vậy,
nghiên cứu về nhân lực có trình độ CĐ, ĐH luôn phải đặt trong mối quan
hệ chặt chẽ với hệ thống kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai
đoạn phát triển.
7.1.4. Cách tiếp cận theo dấu hiệu thị trường
Nhân
lực của các ngành kinh tế đều bị tác động bởi nhiều yếu tố như việc
phát triển công nghệ, sản phẩm tiêu dùng, cấu trúc nền công nghiệp, thay
đổi các mức hoạt động kinh tế, thay đổi chương trình của chính phủ hoặc
những thay đổi của chính sách. V.V..
Các dự báo dài hạn “hiện đại”
cùng với những hạn chế và thiếu sót khiến những nhà lập kế hoạch nhân
lực đưa ra cách tiếp cận theo dấu hiệu thị trường lao động. Các ví dụ về
dấu hiệu thị trường bao gồm: Sự dịch chuyển tiền lương, đòi hỏi của
người sử dụng, dữ liệu tham gia thị trường lao động, xu hướng lao động
theo trình độ giáo dục và chuyên môn, tỷ lệ thất nghiệp chia theo trình
độ giáo dục, kĩ năng và nghề nghiệp, quảng cáo nghề.. V.V…
Nó
tập trung vào trình độ chuyên môn hơn là phân loại nghề nghiệp như liên
quan đến lập kế hoạch nhân lực, với mục đích là ước lượng áp lực lên
nền kinh tế, để quay trở lại đầu tư cho những kĩ năng cụ thể.
Kết
quả từ nghiên cứu dấu hiệu thị trường là cung cấp những chỉ số thể hiện
bất cứ sự chênh lệch nào giữa nhu cầu của người sử dụng lao động và
những thông tin về trình độ của những người đang sẵn sàng làm việc. Nhà
lập kế hoạch cần giám sát điều kiện của thị trường lao động và xem các
kĩ năng cần thiết như là một chiến lược quan trọng để phát triển kinh
tế. Cách tiếp cận này đặc biệt là có ích khi dữ liệu là không đầy đủ để
xây dựng một mô hình chuỗi thời gian hoặc mô hình kinh tế một cách tương
đối hiệu quả.
Mục
đích cuối cùng của dự báo nhu cầu nhân lực có trình độ cao đẳng, đại
học là đáp ứng nhu cầu nhân lực của xã hội và nhu cầu nhân lực của thị
trường lao động, vì vậy trong bối cảnh xã hội – lịch sử hiện nay, mọi
nghiên cứu về nhân lực đều phải xuất phát từ nhu cầu của thị trường và
tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Muốn
đáp ứng được nhu cầu xã hội, nhân lực có trình độ cao đẳng, đại học cần
tuân thủ theo những quy luật cơ bản của kinh tế thị trường như quy luật
giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh... Để có thể đáp ứng
được nhu cầu xã hội với chất lượng tốt, giá thành cạnh tranh.
Có
thể thấy trong thực tế, người ta kết hợp tiếp cận theo dấu hiệu thị
trường với cách tiếp cận lịch sử, logic (hay còn gọi là tiếp cận theo
chuỗi thời gian). Các nhu cầu thay thế bao gồm về hưu, đau ốm bệnh tật
hết khả năng lao động, chết, chuyển nghề… cũng được xem xét [37]. Ở một
số nước, người ta sử dụng phương pháp hồi quy (sử dụng xếp hạng như là
một biến độc lập) để ước lượng nhu cầu về số lượng lao động trong các
lĩnh cực công nghiệp khác nhau, đồng thời họ tiến hành khảo sát doanh
nghiệp đề thu được những yêu cầu trong tương lai về các kĩ năng mềm mà
người lao động cần phải có.
Đánh
giá thị trường lao động là một việc làm đầy thách thức đối với các nhà
nghiên cứu, các nhà xây dựng chính sách về việc làm, các nhà phân tích
về nhân lực và cả những người lập kế hoạch về giáo dục và đào tạo trong
những thập kỷ tới, với mục đích làm giảm sự chênh lệch giữa cung và cầu
nhân lực, đặc biệt là về kĩ năng nghề nghiệp. Việc thiếu hụt kĩ năng
nghề nghiệp sẽ làm hạn chế các mục tiêu phát triển kinh tế. Việc thừa
nhận và sử dụng cách tiếp cận nào đó (trong bốn cách tiếp cận kể trên)
Và sử dụng như thế nào là phụ thuộc vào trình độ nhận thức của chủ thể
dự báo, dựa vào mối tương quan của đối tượng dự báo với môi trường xung
quanh.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Nghiên cứu lý luận
Sử
dụng các phương pháp phân tích, khái quát hoá, so sánh, đối chiếu,
logic, lịch sử, hệ thống hoá lý thuyết, tổng hợp các nghiên cứu đã
có,... để làm rõ các khái niệm, các cặp phạm trù, từ đó hình thành cơ sở
lý luận của dự báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học.
7.2.2. Nghiên cứu thực tiễn
-
Thu thập các số liệu thống kê đặc trưng cho phát triển kinh tế, xã hội
và giáo dục, nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học, phân tích mối
quan hệ bằng phương pháp tương quan và hồi quy;
-
Dựa trên các kết quả phân tích, xây dựng cơ sở khoa học (lý luận và
thực tiễn) Của dự báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng đại học. Vận
dụng vào một vài mô hình/phương trình để dự báo nhu cầu nhân lực trình
độ cao đẳng, đại học của nước ta (minh họa cho cơ sở khoa học đã trình
bày trước đó).
- Tổng kết kinh nghiệm và xin ý kiến chuyên gia nhằm thu thập những thông tin cần thiết phục vụ cho nghiên cứu luận án.
8. Luận điểm bảo vệ
-
Nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học có mối quan hệ mật thiết
với các yếu tố kinh tế - xã hội (tốc độ tăng trưởng GDP, thu nhập bình
quân đầu người, lực lượng lao động,...); Hoàn toàn có thể lượng hóa các
mối quan hệ này bằng các hệ số tương quan, các phương trình dự báo xây
dựng cần được kiểm định theo ý nghĩa thống kê. Kết quả, độ tin cậy của
dự báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học phụ thuộc vào phương
pháp dự báo, các yếu tố tác động được tính tới trong các phương trình dự
báo và các điều kiện để thực hiện dự báo.
-
Năng lực của đội ngũ nhân lực làm công tác dự báo và các điều kiện đảm
bảo để thực hiện dự báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học ở
nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế, dẫn đến kết quả dự báo không đảm bảo
tính khoa học. Những hạn chế, yếu kém này được thể hiện thông qua kết
quả đánh giá.
-
Trên quan điểm, định hướng phát triển công tác dự báo nhu cầu nhân lực
trình độ cao đẳng, đại học, cần đề xuất quy trình, kỹ thuật dự báo và
các giải pháp tăng cường các điều kiện đảm bảo để dự báo nhu cầu nhân
lực trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam đáp ứng được yêu cầu của thực
tiễn, đảm bảo tính khoa học và khả thi.
9. Đóng góp mới của luận án
-
Về lý luận: Hệ thống hóa và xây dựng cơ sở lý luận của dự báo nhu cầu
nhân lực trình độ cao đẳng, đại học thông qua làm rõ các khái niệm, các
nhân tố kinh tế - xã hội tác động đến nhu cầu nhân lực, các phương pháp
dự báo và hệ thống các kiểm định của một phương trình dự báo, các điều
kiện để đảm bảo kết quả dự báo có độ tin cậy.
-
Về thực tiễn: Tiến hành đánh giá thực trạng các dự báo nhu cầu nhân lực
đã thực hiện, thực trạng các điều kiện để thực hiện dự báo nhu cầu nhân
lực trình độ cao đẳng, đại học của nước ta. Thử nghiệm ứng dụng mối
quan hệ giữa một số yếu tố kinh tế - xã hội như GDP, tỷ trọng lao
động... với nhân lực trình độ cao đẳng, đại học vào các phương trình dự
báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam. Đề xuất các
giải pháp tăng cường các điều kiện để công tác dự báo nhu cầu nhân lực
có trình độ cao đẳng, đại học ở nước ta có hiệu quả.
10. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục; Luận án được kết cấu thành 3 chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về dự báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học
Chương 2: Thực trạng dự báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học ởViệt Nam
Chương
3: Đề xuất quy trình, kỹ thuật và giải pháp tăng cường các điều kiện để
dự báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ DỰ BÁO NHU CẦU NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Mọi
quốc gia trên thế giới đều coi giáo dục và đào tạo nhân lực là nhân tố
đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, với sự hưng
thịnh của đất nước. Ngày nay, sự hợp tác mạnh mẽ và cạnh tranh gay gắt
giữa các nền kinh tế đang diễn ra không chỉ trong phạm vi khu vực mà
trong phạm vi toàn cầu, đặc biệt giữa các nền kinh tế thành viên WTO, đã
và đang tạo ra những cơ hội và không ít thách thức đối với sự phát
triển giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học. Hợp tác và cạnh tranh là
quy luật tất yếu giữa hệ thống giáo dục – đào tạo của các nước trên thế
giới để một mặt đáp ứng nhu cầu nhân lực về cả số lượng và chất lượng
phục vụ phát triển kinh tế, xã hội ở mỗi nước, mặt khác chiếm lĩnh thị
trường và tăng thị phần trên phạm vi quốc tế. Cuộc chạy đua và cạnh
tranh gay gắt này tất yếu dẫn đến nhu cầu phải cải tổ giáo dục cho phù
hợp với yêu cầu mới.
Đề
cập đến vấn đề phát triển nhân lực nói chung và nhân lực trình độ cao
đẳng, đại học, có nhiều nghiên cứu khoa học đã được thực hiện với mong
muốn đáp ứng những yêu cầu của xã hội. Nhóm các tác giả Michael R.
Carrell, Norbert F. Elbert và Robert D. Hatfield trình bày trong tài
liệu “Human resource management: Global strategies for managing a diverse workforce”
[112] những nghiên cứu về chiến lược mang tính toàn cầu để quản lý một
lực lượng lao động đa dạng. Đây là những trình bày mang tính lý thuyết
trong xây dựng chiến lược quản lý nhân lực, chưa trình bày về các phương
pháp dự báo nhu cầu nhân lực đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Nghiên cứu và trình bày về lý thuyết dự báo nói chung, có một số tài liệu như: “Elements of Forecasting” của tác giả Francis X. Diebold (University of Pennsylvania) [107]. Đây là một tài liệu được coi là “kinh điển”
về dự báo nói chung và dự báo giáo dục, nhân lực nói riêng. Trong cuốn
sách này, tác giả trình bày đầy đủ những kiến thức cơ bản về dự báo:
Những bước cơ bản để thực hiện thành công một dự báo, những nguyên tắc
để thực hiện thành công dự báo, các mô hình dự báo cơ bản: Mô hình mùa
vụ, mô hình trung bình chuyển động, dự báo theo các chu kỳ, mô hình dự
báo tổng hợp, mô hình hồi quy… Các ví dụ được trình bày trong cuốn sách
này thiên nhiều về dự báo kinh tế, dự báo về sản lượng sản phẩm của các
nhà máy, chưa có ví dụ nào về dự báo giáo dục hay dự báo nhân lực. Còn
trong cuốn sách: “Introduction to Econemetrics”
[110] của hai tác giả James H. Stock (Harvard University) Và Mark W.
Watson (Princeton University) Lại đi sâu giới thiệu những phương pháp dự
báo kinh tế lượng thường được sử dụng trong dự báo kinh tế.
--------------------------------------------Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục gồm hơn 200Tr có nội dung như sau:
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
Bộ LĐ, TB&XH Bộ Lao động, Thương binh và xã hội
BLS Cục Thống kê lao động, thuộc Bộ Lao động Hoa Kỳ
CĐ Cao đẳng
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CSDL Cơ sở dữ liệu
ĐH Đại học
GDĐH Giáo dục đại học
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
KHGD Khoa học giáo dục
KT-XH Kinh tế - xã hội
LĐ, TB & XH Lao động, Thương binh và xã hội
LLLĐ Lực lượng lao động
NSNN Ngân sách nhà nước
TCCN Trung cấp chuyên nghiệp
TCTK Tổng cục Thống kê
TW Trung ương
VN Việt Nam
WTO Tổ chức Thương mại thế giới
XHCN Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng
1.1. Hệ số tương quan giữa Lực lượng lao động trình độ CĐ, ĐH với các
chỉ số: GDP, Đầu tư và năng suất lao động của Việt Nam
Bảng 1.2. Quan hệ cơ cấu nhân lực lao động và trình độ tiến bộ kỹ thuật
Bảng 2.1. Sự gia tăng số lượng giảng viên, sinh viên của giáo dục đại học qua các giai đoạn
Bảng 2.2. Lực lượng lao động và lao động có trình độ CĐ, ĐH
Bảng 2.3. So sánh năng lực cạnh tranh của nhân lực Việt Nam với các nước ASEAN và Trung Quốc
Bảng 2.4. Tỷ lệ nhân lực có trình độ từ cao đẳng, đại học năm 2011 chia theonhóm ngành kinh tế
Bảng 2.5. Nhân lực có trình độ CĐ, ĐH của một số ngành kinh tế
Bảng 2.6. Nhân lực có trình độ cao đẳng, đại học năm 2012 chia theo vùng kinhtế
Bảng 2.7. Kết quả dự báo cầu lao động 2011-2020
Bảng 2.8. Kết quả dự báo cầu lao động theo ngành 2011-2020
Bảng 2.9. Kết quả dự báo cầu lao động theo trình độ đào tạo tỉnh Kon – Tum
Bảng 2.10. Kết quả khảo sát về hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu phục vụ dự báo nhân lực
Bảng 2.11. Thông tin về nhân sự làm công tác dự báo ở các đơn vị được khảo sát
Bảng 2.12. Trình độ học vấn và độ tuổi của cán bộ làm công tác dự báo
Bảng 3.1. Dự báo lao động có trình độ CĐ, ĐH đến năm 2020 theo mô hình dự báo hồi quy tuyến tính ngoại suy theo chuỗi thời gian
Bảng 3.2. Dự báo tỷ trọng nhân lực có trình độ CĐ, ĐH
Bảng 3.3. Kết quả dự báo tổng số lao động có trình độ CĐ, ĐH theo GDP
Bảng 3.4. So sánh tổng số lao động có trình độ CĐ, ĐH theo các phương án dựbáo
Bảng 3.5. So sánh tỉ trọng lao động trình độ CĐ, ĐH theo các phương án
Bảng 3.6. So sánh tốc độ tăng trưởng lao động trình độ CĐ, ĐH theo các phươngán
Bảng 3.7. Dự báo lao động trình độ CĐ, ĐH đến năm 2020
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Mô tả dự báo nhu cầu nhân lực
Hình 1.2. Mối quan hệ giữa dân số và nhu cầu nhân lực
Hình 1.3. Mối quan hệ giữa thu nhập và số năm đi học
Hình 1.4. Các bước cơ bản để thực hiện dự báo
Hình 1.5. Các bước thực hiện dự báo bằng mô hình BLS
Hình 1.6. Mô hình dự báo nhân lực của Anh
Hình 1.7. Mô hình dự báo nhân lực ngắn hạn của Thụy Điển
Hình 1.8. Mô hình dự báo nhân lực của Thụy Điển (áp dụng cho tỉnh Hải Dương)
Hình 1.9. Đề xuất các bước thực hiện dự báo nhu cầu nhân lực trình độ CĐ, ĐH ởViệt Nam
Hình 1.10. Khung lý thuyết nghiên cứu cơ sở khoa học của dự báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học
Hình 2.1.Ý kiến các đơn vị được khảo sát về vai trò của dự báo nhân lực
Hình 3.1. Cấu trúc mô hình dự báo cầu
Hình 3.2. Cầu lao động theo ngành và nghề
Hình 3.3. Cung lao động theo kỹ năng và nghề
Hình 3.4. Mô hình dự báo nhu cầu nhân lực trung và dài hạn theo cách tiếp cậnkinh tế vĩ mô – vi mô
Hình 3.5. Quy trình dự báo nhu cầu nhân lực trình độ CĐ, ĐH
Hình 3.6. Tăng trưởng lao động có trình độ CĐ, ĐH giai đoạn 1999-2010
Hình 3.7. Tỷ trọng nhân lực trình độ CĐ, ĐH trong tổng lực lượng lao động quacác năm 1999-2010
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ DỰ BÁO NHU CẦU NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.2. Những công trình nghiên cứu trong nước
1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan
1.2.1. Dự báo
1.2.2. Nhân lực
1.2.3. Nhân lực trình độ cao đẳng, đại học
1.2.4. Nhu cầu nhân lực và nhu cầu đào tạo
1.2.5. Dự báo nhu cầu nhân lực
1.3. Vai trò của dự báo nhu cầu nhân lực trong quản lý giáo dục và kinhtế - xã hội
1.3.1. Vai trò của dự báo nhu cầu nhân lực trong lập kế hoạch và xây dựng chínhsách
1.3.2. Vai trò của dự báo nhu cầu nhân lực trong việc cung cấp thông tin
1.4. Các yếu tố tác động đến nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học
1.4.1. Các yếu tố về chính sách
1.4.2. Các yếu tố kinh tế - xã hội
1.4.3. Các yếu tố khoa học - công nghệ
1.5. Nội dung và các điều kiện cơ bản để thực hiện dự báo nhu cầu nhânlực trình độ cao đẳng, đại học
1.5.1. Các nội dung chủ yếu của dự báo nhu cầu nhân lực
1.5.2. Các nhiệm vụ cơ bản khi thực hiện dự báo nhu cầu nhân lực có trình độcao đẳng, đại học
1.5.2.1. Xác định vấn đề dự báo
1.5.2.2. Phân tích những yếu tố ảnh hưởng và phát hiện các biến số then chốt
1.5.2.3. Thu thập dữ liệu phục vụ dự báo và đề xuất các giả thiết/ giả thuyếtcho dự báo
1.5.2.4. Tiến hành dự báo và kiểm nghiệm kết quả dự báo
1.5.2.5.Ứng dụng dự báo
1.5.3. Yêu cầu về các điều kiện thực hiện dự báo nhu cầu nhân lực
1.5.3.1. Về nhận thức vai trò của dự báo nhu cầu nhân lực
1.5.3.2. Yêu cầu về số liệu, dữ liệu
1.5.3.3. Về năng lực của người làm dự báo
1.5.3.4. Yêu cầu về mô hình dự báo phù hợp và khả thi
1.6. Một số kinh nghiệm quốc tế về dự báo nhu cầu nhân lực trình độ caođẳng, đại học
1.6.1. Kinh nghiệm dự báo nhân lực của Mỹ
1.6.2. Kinh nghiệm dự báo nhân lực của Anh
1.6.3. Kinh nghiệm dự báo nhân lực của Thụy Điển
1.6.4. Kinh nghiệm dự báo nhân lực của một số nước khác
1.6.5. Bài học cho dự báo nhân lực của Việt Nam
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG DỰ BÁO NHU CẦU NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
2.1. Khái quát về nhân lực có trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam hiệnnay
2.1.1. Nguồn cung nhân lực trình độ cao đẳng, đại học
2.1.2. Cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam giai đoạn 2007-2012
2.1.3. Cơ cấu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam giai đoạn 2007-2012
2.2. Các dự báo nhu cầu nhân lực đã được thực hiện
2.2.1. Dự báo nhu cầu triển vọng cán bộ chuyên môn của nước ta
2.2.2. Dự báo thị trường lao động
2.2.3. Dự báo nhu cầu đào tạo trung cấp chuyên nghiệp
2.2.4. Dự báo nhu cầu đào tạo nhân lực trình độ cao đẳng, đại học Việt Nam giaiđoạn 2011-2020
2.2.5. Dự báo phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020
2.2.5.1. Dự báo lực lượng lao động
2.2.5.2. Dự báo nhu cầu nhân lực của toàn nền kinh tế
2.2.5.3. Dự báo nhu cầu nhân lực của các ngành KT cấp
2.2.5.4. Dự báo nhu cầu nhân lực của các ngành KT cấp
2.2.5.5. Dự báo nhu cầu nhân lực phân theo các ngành kinh tế
2.2.6. Dự báo nhân lực của tỉnh Kon Tum giai đoạn 2011 – 2020
2.2.6.1. Dự báo cung lao động tỉnh Kontum giai đoạn 2011-2020
2.2.6.2. Dự báo cầu lao động tỉnh KonTum giai đoạn 2011-2020
2.3. Thực trạng về các điều kiện để thực hiện dự báo nhu cầu nhân lực ởViệt Nam
2.3.1. Nhận thức của các cơ quan về vai trò của công tác dự báo nhân lực
2.3.2. Hệ thống cung cấp thông tin và cơ sở dữ liệu
2.3.2.1. Hệ thống cung cấp thông tin
2.3.2.2. Cơ sở dữ liệu
2.3.3. Điều kiện về kỹ thuật thực hiện
2.3.4. Nhân lực làm công tác dự báo
2.4. Đánh giá chung về dự báo nhu cầu nhân lực có trình độ cao đẳng,đại học ở Việt Nam
CHƯƠNG 3. ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH, KỸ THUẬT VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ DỰ BÁO NHU CẦU NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
3.1. Quan điểm và định hướng về dự báo phát triển nhân lực trình độ caođẳng, đại học ở Việt Nam
3.1.1. Quan điểm về dự báo phát triển nhân lực trình độ cao đẳng, đại học ở ViệtNam
3.1.2. Định hướng phát triển dự báo nhân lực trình độ cao đẳng, đại học ở ViệtNam
3.1.3. Mô hình dự báo nhu cầu nhân lực được đề xuất áp dụng ở Việt Nam
3.2. Đề xuất mô hình, quy trình, kỹ thuật dự báo nhu cầu nhân lực trìnhđộ cao đẳng, đại học
3.2.1. Quy trình dự báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học
3.2.2. Thực hiện các kiểm định bắt buộc cho phương trình dự báo
3.2.2.1. Kiểm định hệ số tương quan bội
3.2.2.2. Kiểm định tự tương quan
3.2.2.3. Kiểm định phương sai của sai số (PSSS) thay đổi
3.2.3.4. Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến
3.2.3.5. Kiểm định tính chính xác của dự báo
3.3. Thử nghiệm dự báo nhu cầu nhân lực có trình độ cao đẳng, đại học
3.3.1. Tìm các mô hình dự báo nhu cầu nhân lực có trình độ cao đẳng và đại học
3.3.1.1. Mô hình dự báo hồi quy tuyến tính ngoại suy theo chuỗi thời gian
3.3.1.2. Mô hình dự báo theo tỉ trọng lao động
3.3.1.3. Tìm hàm dự báo nhu cầu nhân lực trình độ CĐ, ĐH theo mối tươngquan với GDP
3.3.2. So sánh, đánh giá chung các kết quả dự báo nhân lực có trình độ cao đẳng,đại học
3.4. Các giải pháp tăng cường điều kiện đảm bảo thực hiện dự báo nhucầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học
3.4.1. Giải pháp chính sách phát triển nhân lực và thị trường lao động
3.4.2. Giải pháp về nâng cao năng lực của cán bộ làm công tác dự báo
3.4.3. Giải pháp hỗ trợ về tài chính phục vụ công tác dự báo
3.4.4. Giải pháp về tổ chức thực hiện dự báo
3.4.5. Giải pháp về hoàn thiện hệ thống thông tin, thu thập số liệu định kỳ
PHỤ LỤC
Phụ lục 1. Các phương pháp dự báo nhu cầu nhân lực
1. Nhóm các phương pháp dự báo định tính
1.1. Dự báo bằng phương pháp chuyên gia
1.2. Dự báo bằng phương pháp kịch bản
1.3. Dự báo bằng phương pháp so sánh tương tự
1.4.Ưu/ nhược điểm của dự báo bằng các phương pháp định tính
2. Nhóm các phương pháp dự báo định lượng
2.1. Dự báo bằng phương pháp mô hình hóa
2.2. Dự báo bằng phương pháp ngoại suy
2.3. Phương pháp dự báo theo nhịp tăng
2.4. Phương pháp tự hồi quy bậc p
2.5.Ưu/ nhược điểm của dự báo bằng các phương pháp định lượng
3. Lựa chọn kết quả dự báo cuối cùng
Phụ lục 2: Các mô hình tìm các tham số của phương trình theo phươngpháp bình phương bé nhất
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Áng (2009), (2009), “Xác định chi phí đào tạo đại học ở Việt Nam”,,
Đề tài B2007-CTGD-07 thuộc Chương trình nghiên cứu khoa học giáo dục
cấp Bộ 2006-2008 (Viện Khoa học giáo dục Việt Nam chủ trì).
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc khoá X, NXB Chính trị Quốc gia.
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1993), Nghị quyết Trung ương 4, Khóa II, 1993.
4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1996), Nghị quyết Trung ương 2, Khóa VIII, 1996.
5. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2007), Nghị quyết Trung ương 5, Khóa X, 2007.
6.
Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương (6-2010): "Tổng
điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009“, Nhà xuất bản Thống kê.
7. Thủ tướng chính phủ, Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 về „Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam“
8.
Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 38/2009/QĐ-TTg ngày 09/3/2009: „Bảng
danh mục giáo dục, đào tạo của Hệ thống giáo dục quốc dân“.
9.
Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp, Viện Nghiên cứu Đại học và trung
học chuyên nghiệp (1980): “Kinh tế và giáo dục trong chủ nghĩa xã hội”.
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Các văn bản pháp quy về giáo dục, năm 2001-2010.
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2001), (2001), “Chiến lược phát triển giáo dục 2001 2010”..
12. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012) “Chiến lược phát triển giáo dục 2010 2020”.
13. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1995, ..., 2012), Thống kê giáo dục và đào tạo.
14. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Kỷ yếu Hội thảo quốc gia (2007), Kỷ yếu Hội thảo quốc gia “Đào tạo theo nhu cầu xã hội”..
15. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003), Điều lệ trường cao đẳng.
16. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003), Điều lệ trường đại học. Trang 177
17. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Đề án đổi mới cơ chế tài chính giáo dục 2009-2014.
18. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Đổi mới quản lý hệ thống giáo dục giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012, NXB Giáo dục.
19.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2001): “Tài liệu hướng dẫn phương pháp lồng ghép
biến dân số vào kế hoạch hóa lao động và việc làm”, Dự án VIE/97/P15.
20. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Quỹ Dân số liên hiệp quốc (2005): “Phương pháp lồng ghép dân số vào kế hoạch hóa lao động-việc làm”, Dự án VIE/01/P14, Hà Nội.
21. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2007): “Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020”, Báo cáo tổng hợp.
22.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (6-2010): „Tầm nhìn kinh tế Việt Nam đến 2020:
Tổng quan chiến lược phát triển kinh tế-xã hội thời kỳ 2011-2020“.
23.
Chính phủ (2005), Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 về Đổi
mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006
2020.
24.
Chính phủ, Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg ngày 27/7/2007 về Phê duyệt
Quy hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng giai đoạn 2006-2020.
25.
Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý, Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Báo cáo
tổng kết đề án: Quy hoạch phát triển nhân lực ngành giáo dục giai đoạn
2011 – 2020, Hà Nội, 2010.
26. Đỗ Minh Cương, Nguyễn Thị Doan (2001) “Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam”, NXB Chính trị Quốc gia.
27. Đỗ Văn Chấn (1984) “Dự đoán nhu cầu triển vọng cán bộ chuyên môn của nước ta”, Viện Nghiên cứu Đại học và THCN.
28. Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh (2008): “Kinh tế nguồn nhân lực”, Giáo trình đại học, NXB Đại học kinh tế quốc dân.
29. Dự án Giáo dục đại học (1999, 2001, 2003): “Báo cáo kết quả khảo sát tài chính và đào tạo của các trường đại học Việt Nam”.
30. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần IX. NXB chính trị Quốc Gia.
31. ĐH Kinh tế quốc dân Hà Nội (2003): Giáo trình dự báo phát triển kinh tế – xã hội, Nhà xuất bản Thống kê.
32. Trương Việt Dũng, Phạm Xuân Viết, Phạm Ngân Giang (Bộ Y tế): “Đào tạo nhân lực y tế nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội” Trang 178
33. Trần Khánh Đức (2008) “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI”, NXB Giáo dục.
34.
Nguyễn Minh Đường, Phan Văn Kha (2006): “Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường,
toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
35. Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Trọng Quân (2007): “Giáo trình Quản trị nhân lực”, Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân.
36.
Nguyễn Thế Hà (2011): “Công tác dự báo thị trường lao động Việt Nam, mô
hình và kết quả dự báo đến năm 2020”, Kỷ yếu hội thảo khoa học: “Thành tựu nghiên cứu thống kê, dự báo giáo dục và nhân lực”, Trung tâm Phân tích và Dự báo nhu cầu đào tạo nhân lực, Viện KHGD Việt Nam.
37.
Vũ Ngọc Hải (chủ biên-2004): Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam, hội
nhập và thách thức (Kỷ yếu hội thảo của Bộ Giáo dục và Đào tạo).
38.
Vũ Ngọc Hải, Trần Khánh Đức cùng nhiều tác giả (2004): Hệ thống giáo
dục hiện đại trong những năm đầu thế kỷ 21, Nhà xuất bản Giáo dục.
39.
Vũ Ngọc Hải. Đổi mới giáo dục và đào tạo nước ta trong những năm đầu
thế kỷ XXI. Tạp chí Phát triển giáo dục số 4 (52) năm 2003.
40.
Vũ Ngọc Hải, Hệ thống giáo dục quốc dân hướng tới xây dựng một xã hội
học tập suốt đời. Tạp chí Giáo dục. Số 63 tháng 7/2002.
41.
Vũ Ngọc Hải, Cải cách giáo dục đại học Việt Nam phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, từng bước xây dựng phát triển nền kinh tế tri
thức định hướng xã hội chủ nghĩa. Tạp chí Phát triển giáo dục số (62),
2/2004.
42. Vũ Ngọc Hải, Giáo dục: Một số điểm cần lưu ý khi Việt Nam gia nhập WTO. Tạp chí Phát triển giáo dục số 7 (79) năm 2005.
43. Vũ Ngọc Hải, Xây dựng nền giáo dục Việt Nam hiện đại và chất lượng. Tạp chí Khoa học giáo dục, số 1 tháng 10 năm 2005.
44. Vũ Ngọc Hải, Những tác động của WTO đến giáo dục Việt Nam. Tạp chí Khoa học giáo dục số 2 tháng 11 năm 2005.
45.
Vũ Ngọc Hải, Một số vấn đề về phát triển giáo dục ở các nước trong khu
vực và trên thế giới. Tạp chí Khoa học giáo dục số 5 tháng 2 năm 2006.
46. Vũ Ngọc Hải, Hai mươi năm đổi mới giáo dục Việt Nam. Tạp chí Khoa học giáo dục số 10 tháng 7 năm 2006.
47. Vũ Ngọc Hải, Cung-cầu giáo dục. Tạp chí Khoa học Giáo dục số tháng 9 năm 2007. Trang 179
48.
Vũ Ngọc Hải, Dịch vụ giáo dục đại học xuyên biên giới và những tác động
đến giáo dục đại học Việt Nam. Tạp chí Khoa học Giáo dục số 22 tháng 7
năm 2007.
49.
Nguyễn Đông Hanh (1996), đề tài V95-14: “Một số vấn đề lý luận và
phương pháp dự báo qui mô phát triển giáo dục đào tạo trong điều kiện
nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Viện Nghiên cứu Phát triển giáo dục.
50. Đỗ Mạnh Hùng (2005), (2005), “Một số vấn đề lý luận về dự báo giáo dục”,, Đề tài V2004-01, Hà Nội.
51. Trần Văn Hùng (2013) “Mô hình dự báo nhu cầu thay thế và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam”, bài đăng trong kỷ yếu hội thảo “Đào tạo nhân lực trong giai đoạn hội nhập và phát triển kinh tế”, Viện KHGD Việt Nam.
52. Nguyễn Thị Lan Hương (2002) “Thị trường lao động Việt Nam: Định hướng và phát triển”, Nhà xuất bản Lao động Xã hội.
53. Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2006): Quản lí giáo dục, NXB Đại học Sư phạm.
54.
J. Scott Armstrong (2001) – bản dịch, Các nguyên tắc của dự báo: Sổ tay
cho nhà nghiên cứu và nhà thực hành, Kluwer Academic Publishers.
55. Phan Văn Kha (2007), “Giáo trình quản lý nhà nước về giáo dục” (dành cho các khóa đào tạo SĐH về quản lý giáo dục), Nhà xuất bản ĐH quốc gia Hà Nội.
56.
Phan Văn Kha (2009), “Cơ sở khoa học của việc xác định cơ cấu ngành đào
tạo đại học trong tiến trình hội nhập quốc tế”, Đề tài B2007-CTGD 04
thuộc chương trình nghiên cứu khoa học giáo dục cấp Bộ 2006-2008 (Viện
Khoa học giáo dục Việt Nam chủ trì).
57. Phan Văn Kha, Nguyễn Lộc (đồng chủ biên) (2011): “Khoa học giáo dục Việt Nam từ đổi mới đến nay”, Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội.
58. Luật giáo dục sửa đổi (2010), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.
59. Luật giáo dục đại học, 2012.
60. Đặng Bá Lãm (2003): Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ 21 – Chiến lược phát triển, Nhà xuất bản Giáo dục.
61. Đặng Bá Lãm, Phạm Thành Nghị (1999), Chính sách và kế hoạch trong quản lý giáo dục, NXB Giáo dục.
62. Nguyễn Thị Mỹ Lộc – Nguyễn Hữu Châu (chủ biên) (2012): “Giáo dục đại học Việt Nam – Những vấn đề về chất lượng và quản lý” (Báo cáo thường niên giáo dục Việt Nam), NXB ĐH Quốc gia Hà Nội.
63. Phạm Mai: “Nhân lực du lịch: Chưa đáp ứng nhu cầu hiện tại”, bài đăng trên Vietnamplus điện tử ngày 17/8/2010. Trang 180
64. Nguyễn Khắc Minh (2002), (2002), “Các phương pháp phân tích và dự báo trong kinh tế”,, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật.
65. Trần Hữu Nam (2000), Đề tài “Nghiên cứu ứng dụng các phương pháp dự báo trong giáo dục-đào tạo”, Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục
66. Phạm Văn Nam (2011), đề tài V2010 – 24 “Nghiên cứu phương pháp phân tích cầu nhân lực trên thế giới”, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam.
67.
Ngân hàng thế giới khu vực Đông Á Thái Bình Dương (2012): Báo cáo khu
vực “Phát huy hiệu quả của Giáo dục đại học – Kỹ năng và nghiên cứu để
tăng trưởng ở khu vực Đông Á”.
68.
Nguyễn Bá Ngọc (2013): “Nhu cầu lao động trình độ cao trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”, bài đăng trong kỷ
yếu hội thảo “Đào tạo nhân lực trong giai đoạn hội nhập và phát triển kinh tế”, Viện KHGD Việt Nam.
69. Minh Ngọc: “Cơ cấu GDP và những vấn đề đặt ra”, bài đăng trên trang điện tử của Chính phủ, ngày 13/8/2013
70.
Nguyễn Thị Hoàng Nguyên (2010), “Xây dựng mô hình dự báo và phương pháp
dự báo nhu cầu lao động qua đào tạo nghề ở các cấp trình độ”, đề tài mã
số CB 2010-01-06, Viện Nghiên cứu khoa học dạy nghề, Tổng cục Dạy nghề.
71. Vũ Trọng Oanh (2008). (2008). “Ước lượng suất sinh lợi của giáo dục ở Việt Nam”.. Luận văn thạc sĩ kinh tế. Trường ĐH Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
72. Lê Đông Phương (2010), (2010), “Mô hình dự báo cầu-cung lao động của Alberta (Canada)”,, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 57, tháng 6-2010.
73. Vũ Trọng Rỹ (2009), “Định hướng phát triển giáo dục Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế”,
Đề tài B2007-CTGD-01 thuộc chương trình nghiên cứu khoa học giáo dục
cấp Bộ 2006-2008 (Viện Khoa học giáo dục Việt Nam chủ trì).
74. Đỗ Quốc Sam (2009): “Thế nào là nước công nghiệp”, Tạp chí Cộng sản số 10 (178) năm 2009.
75. Phạm Quang Sáng (2002): “Chính sách đào tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học ở Việt Nam”, Tạp chí Phát triển Giáo dục, số 5/2002.
76. Phạm Quang Sáng (2004): “Công bằng trong phân bổ ngân sách cho giáo dục cơ sở”, tạp chí Phát triển giáo dục, số 2/2004.
77. Phạm Quang Sáng (2010), “Nghiên cứu xây dựng mô hình dự báo phát triển giáo dục đại học Việt Nam”, Đề tài B2007-37-01-TĐ. Trang 181
78. Phạm Quang Sáng, Trần Thị Thái Hà, Nguyễn Văn Chiến (2010): “Đề xuất mô hình dự báo nhân lực được đào tạo ở nước ta”, Tạp chí Khoa học giáo dục số 62, tháng 11/2010.
79. Phan Anh Tuấn (Phó Tổng GĐ Công ty TNHH Sanko Mold VN-KCN Amata), (2010): “Thực trạng việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực hiện nay” Bài viết cho hội thảo với doanh nghiệp của ĐH Hồng Bàng.
80. Dương Thiệu Tống (2005), Thống kê ứng dụng trong nghiên cứu khoa học giáo dục, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.
81. Đỗ Văn Thành (2013): “Phương pháp dự báo nhu cầu nhân lực quốc gia ở Việt Nam”, bài đăng trong kỷ yếu hội thảo “Đào tạo nhân lực trong giai đoạn hội nhập và phát triển kinh tế”, Viện KHGD Việt Nam.
82.
Phạm Thị Thanh (2010): “Nghiên cứu dự báo nhu cầu làm căn cứ cho việc
lập quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên”, Đề tài cấp Bộ, Viện Nghiên
cứu sư phạm, thuộc trường ĐHsư phạm Hà Nội.
83. Mai Thị Thu (2012), “Nghiên cứu một số mô hình dự báo cung – cầu nhân lực qua đào tạo trên thế giới”, đề tài V2011-01, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam.
84. Mai Thị Thu (2013): “Thực trạng công tác dự báo phục vụ quy hoạch phát triển nhân lực ở Việt Nam”, kỷ yếu hội thảo “Đào tạo nhân lực trong giai đoạn hội nhập và phát triển kinh tế”, Viện KHGD Việt Nam.
85. Dương Thiệu Tống (2005), (2005), “Thống kê ứng dụng trong nghiên cứu khoa học giáo dục”,, NXB Khoa học xã hội.
86. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2011), „Thống kê ứng dụng trong kinh tế-xã hội“, NXB Lao động xã hội.
87. Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2013): “Báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2012”.
88. Trung tâm Phân tích và Dự báo nhu cầu đào tạo nhân lực, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam (2011): “Thành tựu nghiên cứu Thống kê, dự báo giáo dục và nhân lực”, Kỷ yếu hội thảo khoa học.
89.
Trung tâm Phân tích và Dự báo nhu cầu đào tạo nhân lực, Viện Khoa học
giáo dục Việt Nam (2010): Dự báo nhu cầu đào tạo nhân lực trình độ cao
đẳng, đại học Việt Nam giai đoạn 2011-2020, nhiệm vụ khoa học cấp Bộ.
90. Trung tâm Phân tích và Dự báo nhu cầu đào tạo nhân lực, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam (2013): “Đào tạo nhân lực trong giai đoạn hội nhập và phát triển kinh tế”, Kỷ yếu hội thảo khoa học. Trang 182
91.
Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế-xã hội quốc gia (2008): “Dự báo
tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong bối cảnh xu thế phát triển của kinh
tế thế giới đến năm 2020”.
92. Trung tâm Quốc gia Dự báo và thông tin thị trường lao động, Cục Việc làm, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2009) “Xu hướng việc làm Việt Nam 2009”.
93. Trung tâm Quốc gia Dự báo và thông tin thị trường lao động, Cục Việc làm, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2011) “Sổ tay dự báo dài hạn: Mô hình dự báo liên ngành cấp vĩ mô Việt Nam”.
94. Trung tâm Quốc gia Dự báo và thông tin thị trường lao động, Cục Việc làm, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2011) “Cẩm nang dự báo ngắn hạn Thị trường lao động Việt Nam”.
95. Ủy ban nhân dân tỉnh KonTum (2011): “Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Kon Tum giai đoạn 2011-2020”, được phê duyệt theo Quyết định số
1111/QĐ-UBND, ngày 19 tháng 10 năm 2011.
96. Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (2011), Kỷ yếu hội thảo (2011), Kỷ yếu hội thảo “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam”.
97. Viện Nghiên cứu Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Bộ Đại học và THCN (1980): “Kinh tế và giáo dục trong chủ nghĩa xã hội”. Tài liệu dịch sang tiếngViệt:
98.
Arthur M. Hauptman (5/2008), Tài chính cho giáo dục đại học, xu hướng
và vấn đề (Phạm Thị Ly dịch), Tư liệu tham khảo nghiên cứu giáo dục,
Viện Nghiên cứu giáo dục Đại học sư phạm Tp.HCM.
99. Arthur Haupt, Thomas T. Kane, Carl Haub (2011) “Sổ tay dân số”, Văn phòng tham khảo dân số Mỹ, Nhà xuất bản Lao động, xuất bản lần thứ 6.
100. Munir Mahmud, bài giảng “Giáo dục và phát triển”, dịch viên Lê Thu
101.
UNESCO, Tuyên ngôn quốc tế về giáo dục đại học trong thế kỷ 21 (10
1998), bản dịch của TS. Nguyễn Ngọc Thanh, tạp chí Thông tin Giáo dục
quốc tế, Viện Nghiên cứu giáo dục Đại học sư phạm Tp.HCM, số
6/2008.
102. Bridget Rosewell (2007): “Uses and Abuses of Forecasting”.
103. Canadian Council on Learning (2007): “Is it Possible to Accurately Forecast Labour Market Needs?”, British Columbia Ministry of Advanced Education. Trang 183
104. Eddy Madiono Sutanto (Lecturer of Management Department-Petra Christian University Forecasting) (2000): “Forecasting: The Key to Successful Human Resource Management” Jurnal Manajemen & Kewirausahaan, Vol. 2, No. 1.
105. Frank Cörvers and Maud Hensen: “Forecasting regional labour-market developments by occupation and education”,
Paper presented at the international conference Systems, institutional
frameworks and processes for early identification of skill needs, 25–26
November 2004, Dublin, Ireland.
106. Frank Cörvers and Hans Heijke (2004): Forecasting the labour market by occupation and education-Some key issues.
107. Francis X. Diebold (University of Pennsylvania): “Elements of Forecasting”
108. G.A.Meagher and Felicity Pang (Centre of Policy Studies, Monash University): “ASSESSING THE RELIABILITY OF LABOUR MARKET FORECASTS”
109. James M.W.Wong, Albert P.C Chan and Y.H. Chiang, The Hong Kong Polytechnic University, Hong Kong: “A critial review of forecasting models to predict manpower demand” in “The Australian Journal of construction Economics and Buiding” [Vol 4, No 2]”
110.
James H. Stock (Harvard University) và Mark W.Watson (Princeton
University), Introduction to Econemetrics, United State of America.
111.
Jong – Tae Choi (Seoul National University) (2011): “A study on human
resource development to competitiveness of korean manufacturing firms”.
112.
Jurusan Ekonomi Manajemen, Fakultas Ekonomi: Forecasting: The Key To
Successful Human Resource Management, Universitas Kristen Petra.
113. Michael R.Carrell; Norbert F.Elbert và Robert D. Hatfield (University of Nebraska và Wesst Virgina State College): “Human resource management: Global strategies for managing a diverse workforce”; Prentice-Hell, International. INC.
114. Louis Christofides, University of Cyprus and University of Guelph, Canada (2006): “Forecasting Skills and Labour Market Needs, Finland”.
115. PETER CAPPELLI (2003): “Will There Really Be a Labor Shortage?”, Organizational Dynamics.
116. The Home Office Migration Advisory Committee (2009): “Estimating potential labour shortage and supply in the European Economic Area”, Economist Intelligence Unit, Country and Economic Research.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét