Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC: CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM HIỆN NAY


NCS: TRẦN THỊ LAN



MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Bước vào thế kỷ XXI, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức và cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã không những xác định vị trí của con người ở hàng đầu trong lực lượng sản xuất mà còn định hình ngày càng rõ hơn vai trò đặc biệt quan trọng của nguồn lực trí tuệ đối với việc phát triển nội lực của mỗi quốc gia, dân tộc.

Việt Nam đang ở thời kỳ bước ngoặt của phát triển với việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Bối cảnh của thế giới và thời đại đang mở ra những triển vọng, điều kiện thuận lợi cho Việt Nam đồng thời cũng đặt nước ta trước nhiều nguy cơ, thách thức nghiệt ngã trên tiến trình hội nhập, trong đó, sự lạc hậu, tụt hậu về trí tuệ là điều đáng sợ nhất.

Với tư cách là cái nôi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, GDĐH Việt Nam có trọng trách to lớn trong quá trình tạo lập, phát triển tiềm lực trí tuệ cho dân tộc. Điều này lý giải tại sao giờ đây, khắc phục điểm nghẽn về nguồn nhân lực trình độ cao thông qua việc cải biến chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH được đặt ra như một giải pháp chiến lược cho sự phát triển, chấn hưng dân tộc mà Việt Nam phải hết sức quan tâm. Đó là kết quả trực tiếp của sự gia tăng nguồn lực trí tuệ được Việt Nam cũng như các quốc gia đặc biệt chú trọng trước tính cạnh tranh trong nền kinh tế dựa trên sức mạnh của tri thức, khoa học và công nghệ.

Vấn đề hệ trọng này còn được cắt nghĩa từ chính những yếu kém kéo dài, chậm được khắc phục trong chất lượng đào tạo nguồn nhân lực của GDĐH ở nước ta. Càng đi sâu vào hội nhập, chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam càng bị chi phối bởi qui luật cạnh tranh và những tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường. Đáng lo ngại là tình trạng bất cập về trình độ, năng lực và những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, lao động hình thức, thiếu tận tâm, tận lực của không ít trí thức nhà giáo trước trọng trách vinh quang của sự nghiệp “trồng người”. Đặc biệt là những thách thức được đặt ra từ chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo đại học chưa đáp ứng tốt yêu cầu thị trường lao động trong nước và quốc tế. Điều đó xa lạ với bản chất lao động khoa học sư phạm sáng tạo và phẩm chất cao qúi của nhà giáo, nếu không kịp thời khắc phục chắc chắn sẽ để lại “di chứng” cho nguồn lực con người không chỉ hiện hữu ở thực tại mà còn trong tương lai.

Để vượt qua lực cản và thách thức này cần đến những giải pháp đồng bộ, nhất là những giải pháp mang tính đột phá nhằm cải biến hiện trạng đã nêu.

Chính yêu cầu tìm kiếm chìa khoá cho sự phát triển nguồn nhân lực đã đưa vấn đề chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH trở thành mối quan tâm thường trực, hàng đầu của các chủ thể lãnh đạo, quản lý cũng như toàn xã hội trong quá trình thực hiện cuộc cách mạng về giáo dục. Mặt khác, đó cũng là điều kiện đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển bền vững của cơ sở đào tạo đại học ViệtNam trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập quốc tế, trước những kỳ vọng của xã hội vào sự cách tân từ các chủ thể giáo dục, từ chương trình, phương pháp giáo dục đại học mà mục đích cao nhất là cải biến chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo. Đây là đòi hỏi bức xúc của xã hội, là công việc khó khăn, phức tạp, tốn kém nhiều công sức, thời gian, tâm lực, trí lực và tiền bạc.

Trên một bình diện cao hơn, thuộc về trách nhiệm, lương tâm xã hội, quan tâm đến chất lượng lao động của trí thức GDĐH là chăm lo cho sự nghiệp đào tạo nguồn lực trí tuệ của dân tộc. Để đảm bảo độ tin cậy cho chiến lược phát triển, bền vững của quốc gia cần thiết phải tìm ra khâu đột phá từ tiềm lực của con người trên cái giá đỡ vật chất của sự phát triển kinh tế. Cơ sở để tạo nên nguồn lực trí tuệ không thể nằm ngoài GDĐH mà mấu chốt là ở chất lượng lao động của đội ngũ trí thức nhà giáo.

Chỉ với cái nhìn biện chứng như vậy mới thấy hết tầm quan trọng và tính bức thiết vì sao phải đổi mới GDĐH, bắt đầu từ những cải biến trong chất lượng lao động của đội ngũ cán bộ quản lý cũng như các thế hệ giảng viên đại học. Luận giải, khảo sát vấn đề này để tìm giải pháp phát triển không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn góp phần thực hiện chủ trương kiểm định chất lượng các trường đại học theo hệ tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm “đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương khóa XI của Đảng.

Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả chọn vấn đề “Chất lượng lao động của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1. Mục đích nghiên cứu của luận án

Xác định một quan niệm có tính hệ thống về chất lượng lao động của trí thức GDĐH để xây dựng luận cứ khoa học đánh giá thực trạng vấn đề này ở Việt Nam, qua đó đề ra những giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao chất lượng hoạt động nghề nghiệp của đội ngũ trí thức GDĐH Việt Nam trong những thập kỷ đầu thế kỷ XXI.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Để đạt được mục đích nêu trên, ngoài việc tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề trí thức, trí thức GDĐH, luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận về chất lượng lao động của trí thức GDĐH ViệtNam từ quan niệm chung đến việc chỉ ra những đặc điểm lao động, tiêu chí đánh giá và tính tất yếu nâng cao chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH ở nước ta hiện nay.

- Đánh giá thực trạng chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH Việt Nam và những vấn đề đặt ra.

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế tri thức và đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu về chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH ở Việt Nam trong điều kiện của đổi mới, của đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, với tác động của xu thế hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

- Chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH có nội dung rất rộng.

Tuy nhiên, luận án chỉ giới hạn nghiên cứu trên ba phương diện chủ yếu: giảng dạy; NCKH; Quản lý giáo dục của đội ngũ trí thức GDĐH ở các trường Đại học công lập của Việt Nam.

- Về thời gian, luận án khảo sát thực trạng chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH Việt Nam giai đoạn 2000 - 2013 và xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng lao động của đội ngũ đó cho những năm tới.

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1. Cơ sở lý luận

Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về trí thức, trí thức giáo dục, trí thức GDĐH; Về vấn đề lao động và động lực lao động nói chung.

Luận án còn kế thừa hợp lý những kết quả nghiên cứu có liên quan đến luận án của các tác giả trong và ngoài nước.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đồng thời chú trọng sử dụng phương pháp logic - lịch sử cùng các phương pháp có tính liên ngành như phân tích, tổng hợp, điều tra xã hội học, so sánh, khái quát hoá.

5. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án

- Luận án nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề chất lượng lao động của trí thức GDĐH dưới góc độ triết học - chính trị - xã hội - giáo dục.

- Luận án xây dựng tiêu chí đánh giá đối với chất lượng lao động của trí thức GDĐH trong hoạt động nghề nghiệp.

- Luận án đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH Việt Nam trong điều kiện của đổi mới, của đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, trước tác động của xu thế hội nhập, toàn cầu hóa và phát triển kinh tế tri thức.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Luận án góp phần phát triển hướng nghiên cứu mới về lý luận và thực tiễn đối với vấn đề chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH ViệtNam từ sự kết hợp cách tiếp cận triết học - chính trị - xã hội và giáo dục.

- Luận án góp phần củng cố vững chắc luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác trí thức GDĐH trong điều kiện mới.

- Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy những chuyên đề liên quan đến trí thức, trí thức GDĐH.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 4 chương, 11 tiết.

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Trước xu thế hội nhập, toàn cầu hoá và những tác động sâu sắc của kinh tế tri thức, vai trò của GDĐH trong xã hội ngày càng được nâng cao, mối quan tâm đến chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH vì thế cũng trở nên có sức hút mạnh mẽ đối với nhiều chủ thể. Liên quan đến vấn đề chất lượng lao động của trí thức GDĐH ở những khía cạnh và góc độ tiếp cận khác nhau, có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước.

1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1.1.1. Những công trình nghiên cứu tiêu biểu bàn luận trực tiếp đến trí thức

Một là, những công trình nghiên cứu tiêu biểu đã được in thành sách:

- GS, TS Phạm Tất Dong (chủ biên): “Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [42]. Công trình đã có những luận giải xác đáng về vai trò của trí thức trong phát triển lực lượng sản xuất, trong sáng tạo văn hóa, phát huy bản sắc dân tộc, trong lãnh đạo, quản lý và điều hành sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Với thái độ tôn trọng trí thức,GS, TS Phạm Tất Dong khẳng định, trong nền kinh tế thị trường, “sản phẩm lao động của trí thức là một loại hàng hóa đặc biệt, nó có thể mất đi hoặc bị chiếm đoạt mà không ai biết, song nó cũng có thể được lưu thông và trả giá xứng đáng như bao thứ hàng quý hiếm khác” [42, tr. 330]. Đây chính là khởi nguồn cho sự đổi mới tư duy khi xem tiền lương và các loại phụ cấp của trí thức như những chính sách đầu tư có lợi nhất để mua lại “chất xám” - một loại sản phẩm đặc biệt trong nền kinh tế thị trường.

- TS Nguyễn Đắc Hưng: “Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất nước” [72] và “Trí thức Việt Nam tiến cùng thời đại” [73]. Hai cuốn sách làm rõ quan niệm về trí thức; Vị trí, vai trò của trí thức; Những phương hướng chủ yếu để xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức ở nước ta đáp ứng yêu cầu của thời đại. Trên cơ sở khẳng định nội hàm rất rộng của khái niệm trí thức, tác giả đã chỉ rõ: Trí thức là những người không chỉ có trình độ học vấn cao mà điều quan trọng nhất là họ thực sự lao động bằng trí tuệ có tính sáng tạo, có những cống hiến nhất định hữu ích cho xã hội và phải được xã hội kiểm định chất lượng thông qua hoạt động thực tiễn [72, tr. 16-17]. Đây là sự đổi mới tư duy về trí thức, từ chỗ coi trọng trình độ chuyên môn được đào tạo đến chỗ thừa nhận và đòi hỏi năng lực lao động thực tế thông qua sự kiểm định khách quan của xã hội.

- PGS, TS Nguyễn An Ninh: “Phát huy tiềm năng của trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong công cuộc đổi mới đất nước” [109]. Từ những kiến giải về tiềm năng của trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong giai đoạn hiện nay, tác giả đã đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm phát huy tiềm năng của đội ngũ này góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.

- GS, TS Nguyễn Văn Khánh - chủ biên của hai công trình: “Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước” [74]; “Nguồn lực trí tuệ Việt Nam - Lịch sử, hiện trạng và triển vọng” [75].

Giá trị của hai công trình nghiên cứu thể hiện tập trung ở những luận chứng khoa học về vấn đề trí thức, nguồn lực trí tuệ với cách tiếp cận liên ngành. Đội ngũ trí thức được tác giả quan niệm là tầng lớp tinh hoa của nguồn lực trí tuệ Việt Nam. Trên cơ sở khảo sát, đánh giá chất lượng của nguồn nhân lực này, tác giả đã đưa ra hệ thống giải pháp có ý nghĩa thiết thực đối với việc xây dựng và phát huy vai trò của nguồn lực trí tuệ đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp chấn hưng đất nước.

- PGS, TS Nguyễn Khánh Bật, Th. S Trần Thị Huyền (đồng chủ biên), “Xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH theo tư tưởng Hồ Chí Minh” [18]. Đây là công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu về trí thức dưới góc độ tư tưởng Hồ Chí Minh. Tác giả đã khái quát những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức, làm rõ sự vận dụng sáng tạo của Đảng và Nhà nước ta trong công tác xây dựng trí thức đồng thời đánh giá những đóng góp, hạn chế của đội ngũ này trong cách mạng Việt Nam, trên có sở đó, đi sâu phân tích những giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức ở nước ta thời kỳ 2011- 2020 đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

Hai là, các đề tài khoa học nghiên cứu về trí thức:

- GS, TS Phạm Tất Dong với Đề tài khoa học cấp nhà nước, mã số KX 04 - 06: “Luận cứ khoa học cho các chính sách nhằm phát huy năng lực sáng tạo của giới trí thức và sinh viên” [40] đã chú trọng phân tích làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và pháp lý của việc hoạch định chính sách, giải pháp hướng vào việc khơi dậy, khai thác, sử dụng năng lực sáng tạo của giới trí thức và sinh viên trong hoạt động giáo dục và đào tạo.

- PGS, TS Đàm Đức Vượng, PGS, TS Nguyễn Viết Thông: “Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011- 2020” [161]. Đây là công trình nghiên cứu công phu và có hệ thống về trí thức. Trên cơ sở đánh giá tổng thể về thực trạng đội ngũ trí thức Việt Nam, đề tài đi sâu phân tích, kiến nghị những giải pháp nhằm xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước. Đề tài đã làm rõ thêm nội hàm của khái niệm trí thức trên bình diện rộng. Không những chỉ ra tính chất lao động trí óc cùng với những yêu cầu về sự hiểu biết, trình độ, khát vọng dân chủ, công bằng, tự do và kết quả sáng tạo trong việc truyền bá, phổ biến, ứng dụng vào đời sống xã hội của trí thức, các tác giả đề tài còn xác định rõ thiên chức, phẩm chất, tính cách của người trí thức Việt Nam.


---------------------------Luận án tiến sĩ triết học gồm gần 200Tr có nội dung chủ yếu như sau:


MỤC LỤC

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1.1. Những công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến luận án
1.2. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến luận án
1.3. Những giá trị, hạn chế của các công trình nghiên cứu liên quanđến luận án và những vấn đề luận án tiếp tục làm sáng tỏ

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG CỦA TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

2.1. Quan niệm về trí thức, trí thức giáo dục đại học và lao động củatrí thức giáo dục đại học
2.2. Tính đặc thù của lao động trí thức giáo dục đại học Việt Namtrong bối cảnh hiện nay
2.3. Quan niệm về chất lượng lao động và chất lượng lao động của độingũ trí thức giáo dục đại học
2.4. Tính tất yếu nâng cao chất lượng lao động của đội ngũ trí thứcgiáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

Chương 3: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

3.1. Thực trạng chất lượng lao động của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam hiện nay
3.2. Một số vấn đề đặt ra đối với chất lượng lao động của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam hiện nay

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM HIỆN NAY

4.1. Quan điểm cơ bản về nâng cao chất lượng lao động của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam hiện nay
4.2. Những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng lao động của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam hiện nay

DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

CBGD: Cán bộ giảng dạy
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐH: Đại học
GDĐH: Giáo dục đại học
GS: Giáo sư
NCKH: Nghiên cứu khoa học
Nxb: Nhà xuất bản
PGS: Phó giáo sư
TB: Trung bình
Ths: Thạc sĩ
TS: Tiến sĩ

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN

Bảng 3.1: Đánh giá của sinh viên về chất lượng một số hoạt độngkiêm nhiệm của đội ngũ trí thức GDĐH
Bảng 3.2: Mức độ hài lòng của trí thức GDĐH đối với kết quả laođộng của bản thân
Bảng 3.3: Mức độ hài lòng của sinh viên về một số lĩnh vực hoạtđộng của đội ngũ trí thức GDĐH
Bảng 3.4: Các kỹ năng và phẩm chất cá nhân, phẩm chất chính trị,đạo đức và năng lực sinh viên đạt được trong thời gian học tập tại trường đại học

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN

Biểu đồ 3.1: Cơ cấu trình độ của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam năm 2012 - 2013
Biểu đồ 3.2: Cơ cấu chức danh phân theo ngành của trí thức giáo dụcđại học Việt Nam ở một số trường đại học tiêu biểu năm2010 - 2011
Biểu đồ 3.3: Cơ cấu chức danh GS, PGS theo vùng, miền của trí thứcgiáo dục đại học Việt Nam ở một số trường đại học tiêu biểu năm 2010 - 2011

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phương Anh (2013), (2013), “Giáo dục với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên”,, Báo Giáo dục và Thời đại, (1).
3. Lê Hữu Ái, Lâm Bá Hòa (2010), “Giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng”, Tạp chí Triết học, (9).
4. Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX (2004), Chỉ thị số 40/2004/CT-TW ngày 15/6/2004 về xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.
5. Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ (Bộ Nội vụ) (1995), Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức bậc đại học, ban hành kèm theo Quyết định số: 538/ TCCP-BCTL ngày 18/12/1995.
6. Ban Tổ chức Trung ương (2011), Hội thảo khoa học Công tác nhân tài ở Việt Nam-một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà Nội.
7. Hoàng Chí Bảo (1986), Sự hình thành thái độ lao động xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Luận án phó Tiến sĩ Triết học (Bản dịch từ tiếng Nga).
8. Hoàng Chí Bảo (2001), Toàn cầu hóa kinh tế và những tác động, ảnh hưởng của nó đối với giáo dục đào tạo ở nước ta, Tài liệu phục vụ giảng dạy chuyên đề, Hà Nội.
9. Hoàng Chí Bảo (2006), Bản chất của hoạt động sáng tạo trong nghiên cứu khoa học, Tư liệu tham khảo, Hà Nội.
10. Hoàng Chí Bảo (2007), Thái độ và trách nhiệm của đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp phát triển đất nước, Tài liệu tham khảo, Hà Nội.
11. Hoàng Chí Bảo (2011), (2011), “Xây dựng đội ngũ chuyên gia và sử dụng chuyên gia”,, Tạp chí Phát triển nhân lực (3).
12. Hoàng Chí Bảo (2012), Giá trị bền vững và sức sống của chủ nghĩa Mác Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.153
13. Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Khắc Hưng (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai-vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
14. Nguyễn Quốc Bảo, Đoàn Thị Lịch (1998), Trí thức trong công cuộc đổi mới đất nước, Nxb Lao động, Hà Nội.
15. Trần Xuân Bách (2010), Đánh giá giảng viên đại học theo hướng chuẩn hóa trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Quản lý giáo dục, Hà Nội.
16. Nguyễn Đức Bách (1995), “Mấy vấn đề cần đổi mới tạo động lực và điều kiện để trí thức nước ta phát huy tài năng trí tuệ”, Tạp chí Công tác khoa giáo, (4).
17. Nguyễn Đức Bách (2008), (2008), “Suy ngẫm và nhận thức về vấn đề trí thức”,, Tạp chí Lý luận chính trị, (9).
18. Nguyễn Khánh Bật, Trần Thị Huyền (Đồng chủ biên), (2013), Xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
19. Bộ Giáo dục & Đào tạo (1995), Nâng cao chất lượng đào tạo bậc đại học để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, Kỷ yếu Hội nghị chuyên đề, Hà Nội.
20. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Đổi mới Giáo dục đại học Việt Nam-Hội nhập và thách thức, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia.
22. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Tài liệu Bộ Giáo dục và Đào tạo làm việc với các trường đại học và cao đẳng (10/2006).
23. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quyết định số: 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày
01/11/2007 về việc Ban hành tiêu chí đánh giá chất lượng trường đại học.
24.Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quy định chế độ làm việc đối với giảng viên ban hành kèm theo Quyết định số 64/2008/QĐ-BGDĐT, ngày
18/11/2008.
25. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Báo cáo tổng kết năm học 2008-2009 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2009-2010 khối các trường đại học, cao đẳng.
26. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Đổi mới quản lý hệ thống GDĐH giai đoạn 2010-2012, Nxb Giáo dục, Hà Nội.154
27. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Đề án Xây dựng và phát triển hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục đối với giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp giai đoạn 2011-2012.
29. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), (2013), “Tài liệu Hội nghị GDĐH năm 2013 ĐHTN”
30. Bộ Kế hoạch và đầu tư (2011), Báo cáo tổng hợp Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020, Hà Nội.
31. Nguyễn Bá Cần (2009), Hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục đại học Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Hà Nội.
33. J.A.Centra (1998), Xác định hiệu quả công tác của giáo viên, Nxb JOSSEY-BASS, San Francisco-London.
34. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Nghị quyết 14-2005/NĐ-CP: “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020”.
35. Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Phương Nga (2000), (2000), “Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo đại học”,, Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, (7).
36. Nguyễn Đức Chính (2002), Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
37. Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Phương Nga (2006), “Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động giảng dạy đại học và NCKH của giảng viên trong Đại học Quốc gia”, Đề tài trọng điểm cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, mã số: QGTĐ.02.06.
38. Đỗ Minh Cương, Nguyễn Thị Doan (2001), Phát triển nguồn nhân lực giáo dục Đại học Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
39. J.M.Denomme và Medeleine Roy (2001), Tiến tới một phương pháp sư phạm, Nxb Thanh niên và Tri thức, Hà Nội.155
40. Phạm Tất Dong (1994), Luận cứ khoa học cho các chính sách nhằm phát huy năng lực lao động sáng tạo của giới trí thức và sinh viên, Đề tài KX 04-06, Hà Nội.
41. Phạm Tất Dong (1995), Trí thức Việt Nam-thực tiễn và triển vọng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
42. Phạm Tất Dong (2001), Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
43. Nguyễn Văn Duệ (1997), (1997), “Đội ngũ cán bộ giảng dạy đại học-thực trạng và kiến nghị”,, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, (11).
44. Phan Viết Dũng (1998), Vị trí, vai trò của tầng lớp trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Luận án PTS Triết học.
45. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội.
46. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Sự thật, Hà Nội.
47. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
48. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
49. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
50. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy, Ban chấp hành Trung ương khoá X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
51. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội.
52. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết số 29-QĐ/ TW Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
53. Đại học Quốc gia Hà Nội-Trường Cán bộ Quản lý Giáo dục và Đào tạo (2003), Giáo dục học đại học, tài liệu bồi dưỡng dùng cho các lớp giáo dục học đại học và nghiệp vụ sư phạm đại học, Hà Nội.156
54. Đại học Quốc gia Hà Nội-Khoa Sư phạm (2004), Một số vấn đề về giáo dục học đại học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
55. Võ Xuân Đàn (2004), “Đội ngũ giảng viên và yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo đại học và sau đại học”, Tạp chí Hoạt động Khoa học, (2).
56. Phạm Đình Đạt (2001), (2001), “Giảng viên với việc nâng cao chất lượng bài giảng”,, Tạp chí Khoa học chính trị, (6).
57. Nguyễn Văn Điềm-Nguyễn Ngọc Quân (2010), Giáo trình Quản trị nhân lực, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
58. Lê Thị Hồng Điệp (2012), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xây dựng nền kinh tế tri thức Việt Nam (Một số vấn đề lý luận và thực tiễn), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
59. Nguyễn Kim Định (2010), Quản trị chất lượng Quality Management, Nxb Tài chính, Hà Nội.
60. Phạm Văn Đồng (1999), Vấn đề giáo dục-đào tạo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
63. D.Ph. Êxarêva (1987), Đặc điểm hoạt động của cán bộ giảng dạy đại học, Tổ tư liệu trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
64. Nguyễn Quang Giao (2006), “Tăng cường bồi dưỡng giảng viên về công tác hướng dẫn sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học nhằm đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên”, Tạp chí Giáo dục, (144).
66. Ngô Văn Hà (2013), Tư tưởng Hồ Chí Minh về người thầy và việc xây dựng đội ngũ giảng viên đại học hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
67. Đào Thanh Hải-Minh Tiến (2005), Xây dựng và phát triẻn đội ngũ cán bộ, công chức trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Lao động-Xã hội, Hà Nội.157
68. Đặng Xuân Hải, Trần Xuân Bách (2008), “Phương pháp phản hồi 360 độ với việc đánh giá cán bộ, giảng viên các trường đại học và vai trò của sinh viên trong việc đánh giá giảng dạy”, Tạp chí Giáo dục, (187).
69. Lê Thị Tuyết Hạnh (2010), “Một số giải pháp cơ bản tạo động lực thúc đẩy giảng viên đại học tham gia nghiên cứu khoa học”, Tạp chíGiáo dục, (241).
70. Tạ Thị Thu Hiền (2011), “Hệ thống đảm bảo chất lượng trong trường đại học theo quan điểm của mạng lưới các trường đại học khu vực Đông Nam Á”, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, (8).
71. Thẩm Vinh Hoa, Ngô Quốc Diệu (chủ biên) (2008), Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài, kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
72. Nguyễn Đắc Hưng (2005), Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
73. Nguyễn Đắc Hưng (2008), Trí thức Việt Nam tiến cùng thời đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
74. Nguyễn Văn Khánh (2010), Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
75. Nguyễn Văn Khánh (Chủ biên), (2012), (2012), “Nguồn lực trí tuệ Việt Nam-Lịch sử, hiện trạng và triển vọng”, Nxb Chính trị quốc gia-Sự thật.
76. Phan Văn Kha (2002): “Ứng dụng mô hình quản lý chất lượng ISO 9000 trong quản lý đào tạo sau đại học ở Việt Nam” (trích trong cuốn sách “Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI-kinh nghiệm của các quốc gia”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
77. Phan Thanh Khôi (1992), Động lực của trí thức trong lao động sáng tạo ở nước ta hiện nay, Luận án phó tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
78. Phan Thanh Khôi (1995), “Đội ngũ trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Tạp chí Nghiên cứu Lý luận, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, (4).
79. Phan Thanh Khôi (1996), (1996), “Những bài học từ quan điểm của Lênin về trí thức”,, Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, (4).158
80. Phan Thanh Khôi (1998), Đội ngũ trí thức, chuyên gia và cán bộ quản lý khoa học-Thực trạng và giải pháp, Đề tài KX 05-03, Hà Nội.
81. Phan Thanh Khôi (2000), (2000), “Tổng quan về đội ngũ trí thức nước ta hiện nay”,, Thông tin lý luận, (4).
82. Phan Thanh Khôi (2002), (2002), “Nhà khoa học và sự sáng tạo trong khoa học xã hội”,, Tạp chí Khoa học chính trị, (1).
83. Phan Thanh Khôi (2008), Đội ngũ trí thức Việt Nam-Quan niệm, thực trạng, phát huy vai trò và xu hướng biến đổi, Tài liệu tham khảo, Hà Nội.
84. Bùi Thị Ngọc Lan (2000), Phát huy nguồn lực trí tuệ trong cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
85. Đào Thái Lai (2006), “Những yêu cầu đối với người giáo viên về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động nghề nghiệp”, Tạp chí khoa học Giáo dục, (5).
86. Bùi Thị Ngọc Lan (2002), Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
87. Trần Thị Lan (2011), “Quan niệm về chất lượng lao động của trí thức giáo dục đại học ở nước ta trong điều kiện hiện nay”, Tạp chí Giáo dục, (9).
88. V.I.Lênin (1979), Toàn tập, Tập 8, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
89. V.I.Lênin (1979), Toàn tập, Tập 11, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
90. V.I.Lênin (1979), Toàn tập, Tập 36, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
91. V.I.Lênin (1979), Toàn tập, Tập 41, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
92. Trần Thị Bích Liễu (2007), Đánh giá chất lượng giáo dục, nội dung phương pháp-kỹ thuật, Nxb Đại học Sư Phạm Hà Nội.
93. Trần Trọng Lưu (1996), (1996), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục tri thức khoa học cho nhân dân”,, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, (6).
94. Trần Hồng Lưu (2010), “Những giải pháp kích thích, tạo động lực cho giảng viên tích cực nghiên cứu khoa học”, Tạp chí Giáo dục, (250).
95. C.Mác (1973), Toàn tập, Tập 1, Quyển 1, Phần 1, Nxb Sự thật, Hà Nội.
96. C.Mác-Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, Tập 19, Nxb Chính trị quốc gia,Hà Nội.
97. C.Mác-Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, Tập 22, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.159
98. C.Mác-Ph.Ăngghen (2002), Toàn tập, Tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
99. C.Mác-Ph.Ăngghen (2000), Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
100. C.Mác-Ph.Ăngghen (2006), Toàn tập, Tập 46, Phần II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
101.Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
102.Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
103.Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, Tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
104.Đỗ Mười (1995), Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
105.Mai Minh (2012), ”Buồn quá giảng viên đại học", http://vietbao.vn/Giao duc/Buon-qua-giang-vien-đai-học/30067056/202/.
106. Nguyễn Phương Nga (2007), Tác động của công tác tự đánh giá trường đại học để kiểm định chất lượng đến cán bộ quản lý và giảng viên trường đại học, Báo cáo nghiệm thu Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Đại học Quốc gia Hà Nội.
107. Nguyễn Phương Nga (2010), Một số khía cạnh của văn hóa chất lượng trong trường đại học, Báo cáo nghiệm thu Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Đại học Quốc gia Hà Nội.
108. Nguyễn Thị Thu Nga (2009), Vai trò, trách nhiệm của giảng viên trong vấn đề tự chủ-tự chịu trách nhiệm ở các trường đại học, cao đẳng, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Vấn đề tự chủ-tự chịu trách nhiệm ở các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, do Ban Liên lạc các trường đại học, cao đẳng Việt Nam tổ chức.
109. Nguyễn An Ninh (2008), Phát huy tiềm năng trí thức khoa học xã hội Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
110. Nguyễn Lê Ninh (1996), (1996), “Vai trò của người thầy trong chất lượng giáo dục đại học”,, Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, (12).
111. Nguyễn Tấn Phát (2012), “Nhìn thẳng vào sự thật, giải quyết tận gốc các mâu thuẫn trong giáo dục, đào tạo”, Tạp chí Cộng sản, (70).
112. Tăng Hữu Phong (2004), “Vai trò của lực luợng cán bộ công chức giảng viên trẻ trong sự phát triển của nhà trường”, Tạp chí Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh, (2).160
113. Phòng Phát triển con người Khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương-Ngân hàng thế giới (2008), Giáo dục đại học và kỹ năng cho tăng trưởng, Báo cáo số 44428-Vn.
114. Phạm Phụ (2000), (2000), “Vài ý kiến về giảng dạy ở đại học”,, Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, (3).
115. Vũ Văn Phúc-Nguyễn Duy Hùng (Đồng chủ biên), (2012), Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội.
116. Vũ Văn Phúc-Mai Thị Thu (Đồng chủ biên), (2012), Khai thác và phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
117. Đỗ Văn Phức (2000), (2000), “Đặc điểm của giáo viên đại học và dạy nghề”,, Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, (5).
118. Ngô Thị Phượng (2005), Vai trò của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Luận án Tiến sĩ triết học, Hà Nội.
119. Phạm Hồng Quang (2006), Môi trường giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
121. Nguyễn Vinh Quang (2012), (2012), “Thúc đẩy mối quan hệ giữa doanh nghiệp trường đại học”,, Báo Giáo dục và Thời đại, (12),
122. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Luật Giáo dục sửa đổi, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
123. Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Trần Khắc Việt, Lê Ngọc Tòng (Đồng chủ biên) (2008), Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ năm 1986 đến nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
124.D. Seldin (1978), Điều tra về các thủ tục đánh giá giảng viên, Báo cáo trình bày tại Hội nghị Quốc tế lần thứ 4 về cải tiến giảng dạy đại học, Đại học Maryland.
125. Nguyễn Văn Sơn (2000), Cơ cấu và chất lượng đội ngũ trí thức giáo dục đại học ở nước ta hiện nay, Luận án PTS Triết học.
126. Nguyễn Văn Sơn (2002), Trí thức giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.161
127. Nguyễn Văn Sơn-Phan Thanh Khôi (2011), “Đại hội Đảng lần thứ XI mở ra môi trường phát triển mới của trí thức Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, (8).
129. Trần Hương Thanh (2010), Các biện pháp tâm lý nâng cao tính tích cực lao động của cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
130. Nguyễn Quý Thanh, Nguyễn phương Nga, Ngô Doãn Đãi (2008), Vấn đề đảm bảo chất lượng trong mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á (AUN), Kỷ yếu Hội thảo Đảm bảo chất lượng-Cuộc gặp gỡ Á-Âu lần thứ nhất, Trung tâm Đảm bảo chất lượng đào tạo và Nghiên cứu phát triển giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội.
131. Phạm Văn Thanh (2001), “Xây dựng đội ngũ trí thức khoa học Mác Lênin trong các trường đại học ở nước ta hiện nay”, Luận án Tiến sĩ triết học, Hà Nội.
132. Phạm Xuân Thanh (2008), Chính sách của Việt Nam về đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục đại học, Kỷ yếu Hội thảo Đảm bảo chất lượng Cuộc gặp gớ Á-Âu lần thứ nhất, Trung tâm Đảm bảo chất lượng đào tạo và Nghiên cứu phát triển giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội.
133. Đỗ Thị Thạch (1999), “Trí thức nữ Việt Nam trong công cuộc đổi mới hiện nay-tiềm năng và phương hướng xây dựng”, Luận án tiến sĩ Triết học, Hà Nội.
134. Trịnh Ngọc Thạch (2012), Mô hình quản lý đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong Giáo dục đại học Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
135. Nguyễn Duy Thông-Vũ Cao Đàn-Nguyễn Trọng Chuẩn, Chủ nghĩa xã hội và trí thức, Nxb Sự thật, Hà Nội.
136. Phạm Văn Thuần (2006), “Về văn hóa đánh giá cán bộ trong quản lý nhân lực ở các trường đại học, cao đẳng”, Tạp chí Khoa học Giáo dục, (14).
137. Phạm Văn Thuần (2008), “Hoàn thiện mô hình đánh giá giảng viên theo quan điểm tự chủ và trách nhiệm xã hội”, Tạp chí Khoa học Giáo dục, (32).162
138. Thủ tướng chính phủ (2010), Chỉ thị số 296/CT-TT, ngày 27-2-2010 về đổi mới quản lý GDĐH giai đoạn 2010-2020.
139. Nguyễn Thị Thu Thủy (2011), (2011), “Cần một cơ chế đánh giá, sàng lọc giảng viên”, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, (5).
141. Nguyễn Thị Tình (2009), “Một số biểu hiện cơ bản về tính tích cực giảng dạy của giảng viên các trường đại học”, Tạp chí Tâm lý học, (2).
142. Nguyễn Thị Tình (2009), (2009), “Thái độ giảng dạy của giảng viên các trường đại học”,, Tạp chí Tâm lý học, (8).
143. Nguyễn Thị Tình (2009), Biện pháp nâng cao tính tích cực giảng dạy của giảng viên đại học trong mô hình nhà trường Việt Nam hiện đại và hội nhập, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Nhà trường Việt Nam trong một nền giáo dục tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc”, Thành phố Hồ Chí Minh.
144. Nguyễn Thị Tình (2010), Tính tích cực giảng dạy của giảng viên đại học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
145. Trần Quốc Toản (2012) (chủ biên), Phát triển giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
146.Nguyễn Công Trí (2011), Trí thức Việt Nam trong phát triển kinh tế tri thức, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
147. Phạm Ngọc Trung (2011), (2011), “Chất lượng giáo dục trong các trường đại học ở nước ta hiện nay”,, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, (8).
148. Trung tâm Thông tin khoa học (2004), Nhân lực Việt Nam trong chiến lược kinh tế 2001-2010, Nxb Hà Nội.
149. Nguyễn Thanh Tuấn (1995), Đặc điểm và vai trò của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, Luận án PTS Triết học.
150. Nguyễn Thanh Tuấn (1998), Một số vấn đề trí thức Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
152. Đinh Thị Minh Tuyết (2010), “Đổi mới phương pháp dạy học-giải pháp tích cực nâng cao chất lượng giáo dục đại học”, Tạp chí Giáo dục, (252).
153. Đinh Thị Minh Tuyết (2010), (2010), “Xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên đại học”,, Tạp chí Giáo dục, (250).
154. Từ điển Triết học (1986), Nxb Tiến bộ, Mátxcơva
155. Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học (1986), Nxb Tiến Bộ, Mátxcơva.
156. J.Vial (1993), Lịch sử và Thời sự về các phương pháp sư phạm, Tài liệu bồi dưỡng giảng viên.
157. Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (2010), Kinh nghiệm của một số nước về phát triển giáo dục và đào tạo khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
158. Viện Ngôn ngữ học (1994), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
159. Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục (2002), Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI-Kinh nghiệm của các quốc gia, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
160. Bùi Khắc Việt, Trí thức trẻ và sinh viên, Đề tài KX 03-09.
161. Đàm Đức Vượng-Nguyễn Viết Thông (2010), Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2012, Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu của đề tài KX.04.16/06-10, Hà Nội.
162.Nghiêm Đình Vỳ-Nguyễn Đắc Hưng (2002), Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
163. W.BB.Webb và C.Y.Nolan (1955), “Đánh giá của sinh viên, quản lý và tự đánh giá đối với hiệu quả giảng dạy”, Tạp chí Tâm lý giáo dục, (46).
164. Franz Emanuel Weinert (1998), Sự phát triển nhận thức học tập và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

DOWNLOAD LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC: CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM HIỆN NAY


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét